- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2024/HS-ST Ngày: 25-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Phong
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Lù Văn Hùng
Ông Vừ A Sinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lục – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa:
Ông Ngô Hoài Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/2024/TLST-HS ngày 24/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ; Sinh ngày 06/5/1966; Tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình; Nơi đăng ký thường trú: Bản QT, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nơi sinh sống: Bản QT, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị K; Sống chung như vợ chồng với chị Nguyễn Thị N và có 02 người con; Con lớn nhất 32 tuổi, con nhỏ nhất 29 tuổi; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/4/2024 đến ngày 10/4/2024, tạm giam từ ngày 10/4/2024 đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 11 giờ 55 phút ngày 02/4/2024, tại đoạn đường thuộc bản Quyết Tiến, xã Búng Lao, tổ công tác Công an huyện Mường Ảng đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Văn Đ. Quá trình kiểm tra, Nguyễn Văn Đ đã tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 01 gói nilon màu xanh, bên trong có 02 viên Methamphetamine. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và đưa Nguyễn Văn Đ về Công an huyện Mường Ảng để điều tra làm rõ. Tại Cơ quan điều tra, Đương khai nhận nguồn gốc số Methamphetamine trên là do vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 02/4/2024 Đương đi bộ từ nhà ra khu vực bản QT, xã BL, huyện MA để tìm mua ma tuý về sử dụng. Khi đi đến đoạn đường quốc lộ 279 thuộc bản Quyết Tiến, xã Búng Lao thì Đương gặp và mua được 02 viên Methamphetamine được gói bằng túi nilon màu xanh với giá tiền là 50.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết. Sau khi mua được Methamphetamine, Đương cất giấu vào túi áo ngực mặc trên người và đi bộ về nhà, trên đường về thì bị phát hiện bắt giữ.
Ngày 02/4/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Ảng cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, niêm phong vật chứng và ra quyết định trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định số 649/KL-KTHS ngày 09/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn Đ có khối lượng 0,18 gam là chất ma tuý: Loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định, có biên bản đóng gói, niêm phong vào giao nhận lại đối tượng giám định kèm theo.
Bản cáo trạng số: 56/CT-VKS-MA ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố Nguyễn Văn Đ để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát duy trì công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 08 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo; Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,15 gam Methamphetamine còn lại sau giám định, 01 mảnh nilon màu xanh; Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì thêm. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Tại phiên tòa bị cáo khai vào ngày 02/4/2024 bị cáo mua được 0,18 gam Methamphetamine với giá tiền 50.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết ở đoạn đường 279 thuộc khu vực bản QT, xã BL, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Mục đích Đương mua Methamphetamine là để sử dụng cho bản thân vì nghiện ma tuý. Sau khi mua được Methamphetamine, bị cáo cất giấu vào túi áo ngực mặc trên người và đi về nhà, đến 11 giờ 55 phút cùng ngày khi bị cáo đang trên đường về nhà thì bị phát hiện bắt giữ. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định: Nguyễn Văn Đ đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép ma túy với khối lượng là 0,18 gam Methamphetamine.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Vì vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt đối với bị cáo:
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 08 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại điện viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó cần chấp nhận, xử phạt bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo còn nhiều khó khăn, không có tài sản gì có giá trị, theo biên bản xác minh tài sản, thu nhập ngày 09/5/2024 tại bút lục số 74. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo: Quá trình điều tra không xác định được người này là ai, ở đâu, do đó không có cơ sở để xử lý.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 0,18 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo, sau giám định còn lại 0,15 gam là vật cấm tàng trữ, lưu hành và 01 mảnh nilon màu xanh là vật để cất giấu vật chứng không có giá trị nên căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Ảng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình Sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình Sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 02/4/2024.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy 0,15 gam Methamphetamine còn lại sau giám định và 01 mảnh nilon màu xanh. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/5/2024 giữa Công an huyện Mường Ảng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Ảng.
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/6/2024).
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA (TA tỉnh); - VKSND huyện Mường Ảng; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Cơ quan ĐT Công an huyện Mường Ảng; - Cơ quan THAHS Công an huyện Mường Ảng; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA.H Mường Ảng; - Bị cáo; - THADS huyện Mường Ảng; - Phòng Hành chính Sở Tư pháp; - Lưu HS, HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hoàng Văn Phong |