- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2024/HS-ST Ngày: 27 -12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Thúy và bà Nguyễn Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ – Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trác Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/HSST-QĐ ngày 20/12/2024, đối với bị cáo:
NGUYỄN NGỌC T, sinh năm 1988; nơi thường trú và nơi ở: Thôn Đ, xã Đ (nay là xã N), huyện G, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Kim L; Vợ là Nguyễn Thị Thu H, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại và chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Bị hại: Anh Vũ Đình S, sinh năm 1977 (đã chết);
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Ông Vũ Đình Đ, sinh năm 1955; địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện G, tỉnh H (là bố đẻ của anh Vũ Đình S).
+ Bà Bùi Thị T, sinh năm 1958; địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện G, tỉnh H (là mẹ đẻ của anh Vũ Đình S).
+ Anh Vũ Đình N, sinh ngày 2002; địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện G, tỉnh H (là con của anh Vũ Đình S).
+ Anh Vũ Đình T, sinh ngày 2004; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện Â, tỉnh H (là con của anh Vũ Đình S).
Người đại diện theo ủy quyền của bà T, anh N và anh T: Ông Vũ Đình Đ, sinh năm 1955; địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện G, tỉnh H
- Người làm chứng: Anh Hà Văn T; anh Phạm Tiến L; anh Nguyễn Viết L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ngọc T là người có giấy phép lái xe ô tô hạng C, số 300064301777, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp, có giá trị đến ngày 06/11/2024. Tối ngày 14/10/2024, T điều khiển xe ô tô bán tải Biển kiểm soát (BKS): 34C-385.26, có trọng tải 585kg, đi 01 mình, trên Quốc lộ 38B hướng thành phố H đi huyện T, tỉnh H để về nhà. Khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, T đi đến đoạn Km7+280, Quốc lộ 38B, thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện G, tỉnh H. Tại đây, mặt đường rộng 10,6m, giữa đường có kẻ vạch sơn màu vàng, nét đứt phân chia 02 chiều đường xe chạy. Theo hướng đi của T, tại mép đường phải, cách cột mốc Km7+200 về phía thành phố H khoảng 22,5m có đặt biển báo nguy hiểm W207d (Giao nhau với đường không ưu tiên) vào đường thôn Đ (bên trái) và đường vào Trạm y tế xã Đ và thôn Đ (bên phải). Quang cảnh xung quanh không có vật cản che khuất tầm nhìn người tham gia giao thông. T điều khiển xe ô tô đi với tốc độ khoảng 60-70Km/h, có bật đèn chiếu sáng nhưng không chú ý quan sát, không nhìn thấy biển cảnh báo nguy hiểm nên vẫn điều khiển xe đi bình thường ở phần đường bên phải. Khi đi đến gần lối mở vào thôn Đ (bên trái), T quan sát thấy phía trước có anh Vũ Đình S, sinh năm 1977, trú tại: thôn Đ, xã T, huyện G, tỉnh H, điều khiển xe đi hướng ngược chiều, rẽ trái sang đường. Anh S điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh 99cm3 nhưng không có Giấy phép lái xe mô tô theo quy định; điều khiển xe khi trong máu có nồng độ cồn 432,6 mg/mL và chuyển hướng xe không có tín hiệu báo rẽ. Lúc này, T không kịp giảm tốc độ và đánh lái sang bên phải theo hướng đi để tránh, nhưng do khoảng cách quá gần nên toàn bộ khu vực ba đờ sốc phía trước xe ô tô BKS: 34C-385.26 do T điều khiển đã va chạm vào khu vực ngang xe bên phải xe mô tô BKS: 16F4-0217 và thân người bên phải anh S, làm xe mô tô đổ, anh S ngã văng lên nắp capô xe ô tô. Theo quán tính, xe ô tô tiếp tục đẩy xe mô tô và người anh S về phía trước khoảng 26m rồi dừng lại ở mép đường bên phải, gần Trạm y tế xã Đ. Hậu quả: Anh S được đưa đi cấp cứu tại Trạm y tế xã Đ, huyện G, tỉnh H, đến khoảng 00 giờ 15 phút, ngày 15/10/2024 thì tử vong tại Trạm y tế xã Đ; 02 phương tiện hư hỏng.
Tại hiện trường còn để lại 03 vết cà mặt đường do xe mô tô BKS: 16F4-0217 tạo lên. 03 vết cà đều có chiều từ thành phố H đi huyện T, hướng từ tim đường vào mép đường bên phải; trong đó, vết cà dài nhất có kích thước 26,3x0,11m. Sau tai nạn, xe mô tô BKS: 16F4-0217 đổ nghiêng trái, đầu xe hướng vào mép đường, đuôi xe hướng ra tim đường. Từ tâm trục bánh trước xe mô tô hướng thành phố H 3,1m là đến tâm trục bánh trước xe ô tô BKS 34C-385.26. Xe ô tô BKS 34C-385.26, dừng đỗ sát mép đường bên phải theo hướng đi, đầu xe hướng huyện T, sau xe hướng thành phố H. Khám nghiệm xe ô tô BKS 34C-385.26, xác định: Toàn bộ mặt ca lăng phía trước bị vỡ, rời khỏi xe. Nắp ca pô bị cong đẩy, bẹp méo, xô dồn theo chiều từ trước lại sau. Thanh kim loại giữ Ba đờ sốc (bộ cản trước), Biển số bị cong đẩy, bẹp lõm theo chiều từ trước lại sau. Xe mô tô BKS: 16F4-0217 xác định: Cánh yếm bên phải bị cong đẩy, xô dồn chiều từ phải qua trái, bề mặt cánh yếm có vết rách. Lốc máy bên phải bị nứt vỡ, một số mảnh rời khỏi xe, làm tràn dầu ra ngoài. Bàn để chân người điều khiển bên phải bị cong đẩy có chiều từ trước lại sau, từ phải qua trái, cong so với vị trí ban đầu khoảng 60 độ. Mặt ngoài vị trí phía cuối ống giảm thanh có vết bẹp lõm, chiều từ ngoài vào trong còn bám dính chất màu trắng, kích thước (5,5x2,5)cm. Mặt ngoài ốp nhựa thân xe bên phải, có nhiều dấu vết xây xước, làm bong tróc lớp sơn bên ngoài, kích thước tổng thể (21x10)cm.
Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 318/KLGĐTT-KTHS ngày 21/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương, đối với anh Vũ Đình S, kết luận nguyên nhân tử vong: Đa chấn thương (chấn thương ngực, bụng kín chảy máu khoang bụng, vỡ thùy gan phải).
Tại Kết luận định giá tài sản số 30/KLĐG-HĐ ngày 01/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Uỷ ban nhân dân huyện Gia Lộc, kết luận:
- Giá trị thiệt hại của 01 xe mô tô BKS: 16F4-0217, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, màu sơn xanh, số máy 0067517, số khung0067517 bị hư hỏng do liên quan tai nạn giao thông thời điểm tháng 10 năm 2024 là: 1.750.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng)
- Giá trị thiệt hại của 01 xe ô tô BKS: 34C-385.26 nhãn hiệu TOYOTA, màu trắng, số loại HILUX, loại xe tải pickup cabin kép, bị hư hỏng do liên quan tai nạn giao thông thời điểm tháng 10 năm 2024 là: 12.150.000 đồng (Mười hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại Phiếu đo nồng độ cồn hồi 01 giờ 05 phút 30 giây ngày 15/10/2024 đối với Nguyễn Ngọc T kết quả: 0.000mg/L. Kết quả xét nghiệm ma tuý trong cơ thể hồi 10 giờ 53 phút ngày 15/10/2024 đối với T xác định: Âm tính.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc T không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định, khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 27-11-2024, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Ngọc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự (viết tắt là BLHS).
Đại diện VKSND huyện Gia Lộc giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; khoản 1, 2, 5 Điều 65; điểm b khoản 1 Điều 46 của BLHS; Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự (viết tắt là BLTTHS) năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Xử phạt bị cáo T từ 13 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 26 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung. Về vật chứng: Trả cho bị cáo Giấy phép lái xe số No: 300064301777 hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 06/11/2019 mang tên Nguyễn Ngọc T. Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị xem xét. Về án phí: Bị cáo T bị kết án nên phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và xác định đã nhận đủ số tiền 110.000.000 đồng do bị cáo T bồi thường. Đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường gì thêm và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
Bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lộc, Điều tra viên, VKSND huyện Gia Lộc,và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Nguyễn Ngọc T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, phương tiện, khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 14/10/2024, tại Km7+280, Quốc lộ 38B, thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện G, tỉnh H, Nguyễn Ngọc T là người có giấy phép lái xe ô tô hợp lệ, điều khiển xe ô tô BKS 34C-385.26, có trọng tải 585kg, hướng thành phố H đi huyện T. Tại đây, đoạn đường có biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên, T điều khiển xe không chú ý quan sát, không giảm tốc độ (để có thể dừng lại một cách an toàn) nên khi nhìn thấy anh Vũ Đình S, đang điều khiển xe mô tô BKS: 16F4-0217 đi hướng ngược chiều, rẽ trái sang đường, do khoảng cách quá gần, T không kịp tránh nên làm toàn bộ đầu xe ô tô bên phụ do T điều khiển đã va chạm vào khu vực ngang xe bên phải xe mô tô BKS: 16F4-0217 và thân người bên phải anh S, làm xe mô tô đổ, anh S ngã văng lên nóc capô rồi rơi xuống mép đường bên phải. Hậu quả: Do đa chấn thương nên anh Sơn đã tử vong hồi 00 giờ 15 phút, ngày 15/10/2024 tại Trạm y tế xã Đ. Xe mô tô BKS: 16F4-0217 bị hư hỏng, giá trị thiệt hại tài sản là: 1.750.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải, quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng khi tham gia giao thông đường bộ, hậu quả làm một người chết và gây hư hỏng tài sản. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS năm 2015. Vì vậy, VKSND huyện Gia Lộc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên là đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến trật tự an toàn công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, sau tai nạn đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; trong vụ án bị hại cũng có một phần lỗi nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015.
Về hình phạt: Xét Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, người bị hại cũng có lỗi trong vụ tai nạn giao thông, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù vì bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không hành nghề lái xe nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 110.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Gia Lộc đã trả lại 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA HILUX BKS: 34C-385.26 cùng các giấy tờ có liên quan đến chiếc xe cho anh Nguyễn Viết L (là chủ xe) và trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE BKS: 16F4-0217 là tài sản hợp pháp của bị hại anh Vũ Đình S cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Vũ Đình Đ là phù hợp.
Đối với Giấy phép lái xe số No: 300064301777 hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp ngày 06/11/2019 mang tên Nguyễn Ngọc T, có giá trị đến ngày 06/11/2024. Đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên trả cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 BLTTHS năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14.
Về biện pháp ngăn chặn: Do bị cáo được HĐXX áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo nên cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 BLTTHS.
Các vấn đề khác: Trong vụ án này, bị hại là anh Vũ Đình S cũng có lỗi khi điều khiển xe mô tô dung tích xi lanh 99cm3 không có Giấy phép lái xe mô tô theo quy định, điều khiển xe khi trong máu có nồng độ cồn 432,6 mg/mL và chuyển hướng xe không có tín hiệu báo rẽ, vi phạm khoản 8, khoản 9 Điều 8 và Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Tuy nhiên, sau tai nạn, anh S đã tử vong nên không đặt vấn đề xử lý đối với anh S là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1, 2, 5 Điều 65; điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS năm 2015; điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 135, Điều 136 BLTTHS năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 13 (mười ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 26 (hai mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Ngọc T cho UBND xã N, huyện G, tỉnh H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo T có trách nhiệm phối hợp với UBND xã N, huyện G, tỉnh H trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số No: 300064301777 hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp ngày 06/11/2019 mang tên Nguyễn Ngọc T.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - VKSND tỉnh Hải Dương; - VKSND huyện Gia Lộc; - Cơ quan CSĐT-Công an huyện Gia Lộc; - Cơ quan THAHS-Công an huyện Gia Lộc; - Chi cục THADS huyện Gia Lộc; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Sở GTVT tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thanh Giang |