vanban.org

Bản án 72/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Nguyễn Bảo H đối với chị Võ Thị Thu Th về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc chị Võ Thị Thu Th có nghĩa vụ trả cho chị Trần Nguyễn Bảo H số tiền vay 152.500.000 (một trăm năm mươi hai triệu năm trăm nghìn) đồng. Ghi nhận chị H không yêu cầu tính tiền lãi. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trần Nguyễn Bảo H - Võ Thị Thu Th"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Nguyễn Bảo H đối với chị Võ Thị Thu Th về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/DS-ST
Ngày: 20-9-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài
sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thân;

2. Bà Nguyễn Hồng Trang.

- Thư ký phiên tòa: bà Lâm Thị Ngọc Triều, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Vịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2024 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Trần Nguyễn Bảo H, sinh năm 1995; cư trú tại: tổ 16, khu phố 1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

2. Bị đơn: chị Võ Thị Thu Th, sinh năm 1982; cư trú tại: khu phố 1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 23/4/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Trần Nguyễn Bảo H trình bày:

Chị Võ Thị Thu Th có vay của chị tổng số tiền 152.500.000 đồng, vay 06 lần, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: ngày 09/01/2024 dương lịch chị cho chị Th vay số tiền 10.000.000 đồng, khi vay có làm giấy tờ, hẹn trong vòng 10 ngày sẽ trả, khi vay hai bên thoả thuận lãi theo mức lãi suất của ngân hàng 1%, từ khi vay chị Th chưa trả tiền lãi.

Lần thứ hai: ngày 23/3/2024 dương lịch chị cho chị Th vay số tiền 10.000.000 đồng, khi vay có làm giấy tờ, hẹn trong vòng 10 ngày trả, khi vay hai bên thoả thuận lãi theo mức lãi suất của ngân hàng 1%, từ khi vay chị Th chưa trả tiền lãi.

Lần thứ ba: Cùng ngày 23/3/2024 dương lịch chị cho chị Th vay số tiền 97.500.000 đồng, khi vay có làm giấy tờ ngày 23/3/2024, hẹn trong vòng 10 ngày trả, khi vay hai bên thoả thuận lãi theo mức lãi suất của ngân hàng 1%, từ khi vay chị Th chưa trả tiền lãi. Đối với số tiền 97.500.000 đồng này thì trước đó chị Th có vay chị làm nhiều lần tuy nhiên đến ngày 23/3/2024 chị và chị Th có chốt lại số nợ thành số tiền 97.500.000 đồng.

Lần thứ tư: Ngày 26/3/2024 dương lịch chị cho chị Th vay số tiền 10.000.000 đồng, khi vay có làm giấy tờ ngày 26/3/2024, hẹn 20 ngày trả số tiền này, khi vay hai bên thoả thuận lãi theo mức lãi suất của ngân hàng 1%, từ khi vay chị Th chưa trả tiền lãi.

Lần thứ năm: Ngày 27/3/2024 dương lịch chị cho chị Th vay số tiền 10.000.000 đồng, khi vay có làm giấy tờ ngày 27/3/2024, hẹn 20 ngày trả số tiền này, khi vay hai bên thoả thuận lãi theo mức lãi suất của ngân hàng 1%, từ khi vay chị Th chưa trả tiền lãi.

Lần thứ sáu: Ngày 04/4/2024 dương lịch chị cho chị Th vay số tiền 15.000.000 đồng, khi vay có làm giấy tờ ngày 27/3/2024, hẹn 20 ngày trả số tiền này, khi vay hai bên thoả thuận lãi theo mức lãi suất của ngân hàng 1%, từ khi vay chị Th chưa trả tiền lãi.

Nay chị yêu cầu chị Võ Thị Thu Th trả cho chị tổng số tiền 152.500.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Võ Thị Thu Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị Th vắng mặt không có lý do, không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình và cung cấp lời khai đối với yêu cầu của nguyên đơn, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Trần Nguyễn Bảo H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Võ Thị Thu Th đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, lập hồ sơ vụ án theo quy định; xác định quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, người tham gia tố tụng; xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về thụ lý vụ án; thực hiện đúng thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Nguyễn Bảo H đối với chị Võ Thị Thu Th về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”: Buộc chị Võ Thị Thu Th trả cho chị Trần Nguyễn Bảo H số tiền 152.500.000 đồng, ghi nhận chị H không yêu cầu tính tiền lãi. Về án phí: chị Võ Thị Thu Th phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:

Chị Trần Nguyễn Bảo H khởi kiện chị Võ Thị Thu Th, địa chỉ: khu phố 1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh yêu cầu trả số tiền vay. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

[1.2] Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung vụ án:

Xét hợp đồng vay tài sản, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã cung cấp địa chỉ nơi cư trú của bị đơn theo địa chỉ được ghi trong hợp đồng nhưng bị đơn thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới nên được coi là cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương về địa chỉ nơi cư trú xác định chị Th vắng mặt tại nơi cư trú tại khu phố 1, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh và không rõ địa chỉ nơi cư trú mới, không xác định thời điểm trở về nên không thể cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp văn bản tố tụng cho chị Th. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ chị Th để giao nộp văn bản ghi ý kiến, cung cấp lời khai đối với yêu cầu của nguyên đơn, thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Th vắng mặt không có lý do. Chị Th có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ chứng minh nhưng không đưa ra được chứng cứ. Căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 91; Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập được trong hồ sơ để giải quyết vụ việc dân sự. Chị Th phải chịu hậu quả pháp lý về việc không giao nộp đầy đủ chứng cứ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Chị Trần Nguyễn Bảo H cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ là 06 (sáu) “Giấy cho vay tiền” 9/1/2024; 23/3/2024; 23/3/2024; 26/3/2024; 27/3/2024; 04/4/2024, nội dung thể hiện bên cho vay chị Trần Nguyễn Bảo H, tổng số tiền vay 152.500.000 đồng; bên vay chị Võ Thị Thu Th, có chữ ký, chữ viết họ tên “Võ Thị Thu Th”. Lời trình bày của chị H phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp, giao nộp cho Tòa án và tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ xác định việc giao kết hợp đồng vay tài sản giữa các bên là sự thật.

Chị Võ Thị Thu Th đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, địa điểm trả nợ của bên vay. Căn cứ Điều 466 của Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, buộc chị Th có nghĩa vụ trả cho chị H số tiền vay 152.500.000 đồng.

Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 466, 468, 469 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Nguyễn Bảo H buộc chị Võ Thị Thu Th có nghĩa vụ trả số tiền vay 152.500.000 đồng. Ghi nhận chị H không yêu cầu tính tiền lãi.

Về án phí: căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Chị Võ Thị Thu Th phải chịu 7.625.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 357, 463, 466, 468, 469 của Bộ luật Dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Nguyễn Bảo H đối với chị Võ Thị Thu Th về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc chị Võ Thị Thu Th có nghĩa vụ trả cho chị Trần Nguyễn Bảo H số tiền vay 152.500.000 (một trăm năm mươi hai triệu năm trăm nghìn) đồng. Ghi nhận chị H không yêu cầu tính tiền lãi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: chị Võ Thị Thu Th phải chịu 7.625.000 (bảy triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Trần Nguyễn Bảo H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho chị Hân số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 3.812.500 (ba triệu tám trăm mười hai nghìn năm trăm) đồng chị H đã nộp theo biên lai thu số 0004951 ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ này nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ