- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2023/HSST. Ngày: 25 - 9 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kỳ Việt.
Các Hội thẩm nhân nhân: Ông Vũ Quyết Thắng, ông Lường Văn Độ.
- Thư ký phiên toà: Bà Cầm Thị Phương Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Giàng A Mơ – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2023/HSST ngày 07 tháng 9 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2023/QĐXXST – HS ngày 12 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Tòng Văn D; tên gọi khác: Không; sinh năm 1981 tại: Huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; số định danh cá nhân: 014081xxxxxx; nơi cư trú: Bản L T, xã N L, huyện S C, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tòng Văn D (đã chết) và bà Tòng Thị L (đã chết); bị cáo có vợ là Tòng Thị H, sinh năm 1984 và có 02 con(Lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 29/5/2023, chuyển tạm giam ngày 07/6/2023 tại nhà tạm giữ Công an huyện Sốp Cộp cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi liên quan: Chị Tòng Thị H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Bản L T, xã N L, huyện S C, tỉnh Sơn La (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 21 giờ 15 phút ngày 28/5/2023, tại khu vực bản Hua Mường, xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp trong quá trình làm nhiệm vụ đã phát hiện, bắt quả tang Tòng Văn D (sinh năm 1981; nơi cư trú: Bản L T, xã N L, huyện S C, tỉnh Sơn La) về hành vi cất dấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:
- Thu trong túi quần bên trái Tòng Văn D đang mặc 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 09 viên nén màu hồng (nghi là ma tuý);
- 01 chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 26H8 – 5191, đã qua sử dụng.
Ngày 29/5/2023, tại cơ quan CSĐT Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, đã tiến hành cân tịnh số vật chứng là 09 viên nén màu hồng do thu giữ của Tòng Văn D, có tổng khối lượng là 0,85 gam (Không phẩy tám mươi lăm gam). Lấy 04 viên có khối lượng 0,37 gam, ký hiệu A làm mẫu gửi giám định. Số còn lại 05 viên có khối lượng 0,48 gam, ký hiệu A1 lưu kho vật chứng.
Kết luận giám định số 1344/KL-KTHS ngày 01/6/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, có nội dung: "Mẫu gửi giám định ký hiệu A là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,37 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,85 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra bị can Tòng Văn D đã khai nhận hành vi cất dấu ma tuý bị phát hiện ngày 28/5/2023 như sau: Khoảng 20 giờ ngày 28/5/2023 Tòng Văn D một mình điều khiển xe mô tô BKS: 26H8 – 5191 từ nhà tại bản L T, xã N L, huyện S C đến bản Phổng, xã Nậm Lạnh để mua rượu uống. Khi D đi đến ngã ba bản Phổng thì gặp 01 người đàn ông không quen biết xin đi nhờ xe ra trung tâm huyện Sốp Cộp hứa sẽ trả tiền công, D nhất trí, trên đường đi người đó hỏi D “Có sử dụng ma tuý không, do bản thân nghiện ma tuý nên D nói có”, khi cả hai đi đến đoạn đường gần khu vực nhà máy cấp nước sạch huyện Sốp Cộp, thuộc bản Hua Mường, xã Sốp Cộp thì người đó bảo D dừng xe đi bộ ngược lên đồi tại khu vực đặt bể cấp nước tìm nơi sử dụng ma tuý. Đến nơi người đó lấy ra 01 viên ma tuý để cả hai cùng sử dụng bằng hình thức đốt hít qua đường mũi, miệng, tiếp đó người đàn ông đó nói do không có tiền nên trả công xe ôm cho D bằng 09 viên ma tuý. D nhất trí nhận 09 viên ma tuý được gói bằng mảnh ni lon màu trắng từ người đàn ông mới quen bỏ vào túi quần bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô quay về nhà. Trên đường về thì bị tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp phát hiện bắt quả tang về hành vi đang cất dấu 09 viên ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,85 gam như đã nêu.
Cáo trạng số 49/CT - VKSSC ngày 31/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La: Đề nghị truy tố bị can Tòng Văn D về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Tòng Văn D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 22 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,48 gam Methamphetamine (Số còn lại sau khi trích rút 0,37 gam gửi giám định); 01 mảnh ni lon màu trắng và 01 chiếc xe mô tô BKS: 26H8 – 5191. Xe không có đèn pha, không có đèn xi nhan, không có gương chiếu hậu
Về án phí: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Miễn cho bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến: Thừa nhận ngày 28/5/2023 bị bắt quả tang về hành vi cất dấu 09 viên ma tuý, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Nay bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo thành khẩn khai nhận tội mà giảm nhẹ hình phạt. Vật chứng là chiếc xe mô tô đã cũ, hỏng nên đề nghị Hội đồng xét xử lý theo quy định pháp luật
Tại phiên toà người có quyền lợi liên quan chị Tòng Thị Hơn có ý kiến: Chiếc xe mô tô BKS: 26H8 – 5191 là tài sản chung của vợ chồng chị với bị cáo. Việc bị cáo sử dụng xe chở người để nhận tiền công bằng ma tuý chị không biết, xe đã cũ, hỏng nên chị không yêu cầu nhận lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo khai nhận bản thân đã từng sử dụng trái phép chất ma tuý nên vào đêm 28/6/2023 bị cáo đã cho 01 người đàn ông không quen biết đi nhờ xe để được sử dụng ma tuý cùng người đó và còn được trả công bằng 09 viên ma tuý tổng hợp, loại Methamphetamine, khối lượng 0,85 gam. Trên đường điều khiển xe về nhà thì bị tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp phát hiện bắt quả tang về hành vi cất dấu gói ma tuý trong túi quần bên trái như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là đúng sự thật. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; kết luận giám định đối với vật chứng thu giữ là 0,85 gam ma tuý, loại Methamphetamine và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đủ căn cứ kết luận bị cáo Tòng Văn D đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp là có căn cứ, đúng pháp luật.
Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c) Heroine, Cocaine,Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,85 gam ma tuý, loại Methamphetamine của bị cáo nhằm sử dụng cho bản thân là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý. Xâm hại đến chính sức khỏe, hạnh phúc hôn nhân và gia đình bị cáo, sau là hành vi tiếp tay cho các loại tội phạm khác như mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng và còn là nguyên nhân làm phát sinh tệ nạn sử dụng, nghiện ma tuý tại địa phương. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ với mục đích trừng trị răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng bị áp dụng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai nhận tội, nên được xem xét, áp dụng là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo thuộc hộ nghèo không có tài sản để thi hành. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 0,48 gam Methamphetamine (Số còn lại sau khi trích rút 0,37 gam gửi giám định) là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, là vật cấm lưu hành. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên tịch thu tiêu huỷ cùng 01 mảnh ni lon màu trắng.
- Đối với chiếc xe mô tô BKS: 26H8 – 5191. Kết quả điều tra cũng như tại phiên toà xác định thuộc quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng bị cáo. Tuy nhiên do tình trạng xe mua lại từ cửa hàng phế liệu, không đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông. Do vậy cần áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên tịch thu tiêu huỷ.
Đối với nguồn gốc ma túy bị bắt giữ, theo bị cáo khai do được trả tiền công xe ôm từ 01 người đàn ông không quen biết tại khu vực bể cấp nước thuộc bản Hua mường, xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo không cung cấp được thông tin cụ thể về tên, tuổi và đặc điểm nhận dạng cụ thể của đối tượng. Do vậy không có cơ sở để điều tra là rõ và bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng ma tuý bị phát hiện bắt giữ.
Án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo do vậy được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Tòng Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Tòng Văn D 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 29/5/2023 (Ngày tạm giữ bị cáo).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Tuyên tịch thu tiêu huỷ:
+ 01 (Một) phong bì thư của Công an huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, đã được niêm phong dán kín bằng giấy niêm phong, một mặt phong bì ghi: "Vật chứng lưu kho vụ: Tòng Văn D - Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 28/5/2023 tại khu vực bản Hua Mường, xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Bên trong phong bì có chứa 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh ni lon màu trắng đựng ban đầu; 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 05 viên nén đồng dạng hình trụ tròn màu hồng có tổng khối lượng 0,48 gam, ký hiệu A1” (Theo kết luận giám định số 1344/KL-KTHS ngày 01/6/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, thì 05 viên nén đồng dạng hình trụ tròn màu hồng có tổng khối lượng 0,48 gam, ký hiệu A1 là ma túy, loại Methamphetamine).
+ 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu MERITTUS THAI LAND, ở bên trái bình chứa xăng có dán mác HONDA, loại WIN màu sơn xanh – đen, biển kiểm soát 26H8 – 5191, số khung 102801, số máy 006801, xe không có đèn pha, không có đèn xi nhan, không có gương chiếu hậu, không kiểm tra tình trạng hoạt động của xe, xe đã cũ qua sử dụng.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Miễn cho bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Báo cho bị cáo và người có quyền lợi liên quan biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (25/9/2023)./.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh; - Viên kiểm sát ( 02 bản ); - Sở tư pháp; - Công an huyện; - THA hình sự - THA dân sự huyện; - Trại giam; - Bị cáo; Người có QLLQ; - Lưu hồ sơ; - Lưu VPTA ( 01 bản ). | T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kỳ Việt |