- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2023/HSST Ngày 28/4/2023. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội Đ xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ Phiên toà: Ông Trần Trung Trực
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Duy May
2. Bà Trần Thị Đông
- Thư ký phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đông Anh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: bà Dương Thị Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 28/4/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 67/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 04 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn Đ, sinh ngày 15/01/1992 tại Hà Nội; giới tính: nam; Nơi cư trú: thôn HB, xã HB, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Vũ Văn K (đã chết) và bà Vũ Thị Đ1; có vợ là Nguyễn Thị Qn, sinh năm 1998, có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019; Về nhân thân: theo trích lục tiền án, tiền sự số 5778155/2023/PV06 ngày 17/02/2023 và lý lịch bị cáo thì bị cáo không có tiền án tiền sự.
Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp tạm giữ từ ngày 01/01/2023 đến ngày 06/01/2023. Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16h40’ ngày 01/01/2023, Công an xã HB, huyện Đông Anh làm nhiệm vụ tại tuyến đường khu vực nghĩa trang Khu dân cư TL, xã HB, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội phát hiện Vũ Văn Đ điều khiển 01 xe máy Honda Wave α, màu sơn: đen – bạc, BKS: 29S1-903.09 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, phát hiện: thu giữ của Đ 02 túi nilon cm chứa tinh thể màu trắng và 01 túi nilon chứa 03 viên nén màu hồng nghi là ma túy. Tổ công tác lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng và đưa Vũ Văn Đ về trụ sở để tiếp tục điều tra làm rõ.
Ngoài ra, cơn quan Công an còn thu giữ của Đ 01 điện thoại 01 điện thoại OPPO A74 màu xanh gắn sim số: 0339119901và 01 xe máy Honda Wave α màu sơn: đen – bạc, BKS: 29S1-903.09, số máy: JA39E-1213373, số khung: RLHJA3919KY347118.
Tại bản kết luận giám định số 213/KL-KTHS ngày 09/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội, kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi ni lông đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,404 gam.
- 03 viên nén màu hồng bên trong 01 túi ni lông đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,288 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Văn Đ khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 16h00’ ngày 01/01/2023 Đ gọi điện thoại cho một người bạn xã hội tên “Trí” (không rõ nhân thân lai lịch) đặt mua 1.000.000đ tiền ma túy tổng hợp, Trí Đ ý và hẹn giao dịch mua bán ma túy tại khu vực bờ kè sông Hồng thuộc thôn HB, xã HB, huyện Đông Anh. Sau đó Đ đi đến gặp và mua của Trí 02 túi ma túy “đá” và 01 túi chứa 03 viên ma túy “ngựa”. Sau khi mua được ma túy, Đ cất giấu trong túi áo khoác bên trái rồi đi về khu bê tông HB để sử dụng ma túy. Khi Đ đứng ở rìa đường liên xã Kim Nỗ - HB thì bị lực lượng công an kiểm tra phát hiện bắt giữ. Mục đích Đ mua ma túy về để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích nào khác.
Đối với người đàn ông tên “Trí” đã bán ma túy cho Đ, Đ khai chỉ biết số điện thoại của “Trí”. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ điện tín đối với số thuê bao 0353624248 của “Trí”, xác minh thuê bao số điện thoại trên là Phan Thị Gọn (SN: 1952; HKTT: Nghĩa Phương, Tư Nghĩa, Quảng Ngãi). Tại cơ quan điều tra, bà Gọn trình bày: Bà Gọn chưa bao giờ đăng ký và sử dụng số thuê bao 0353624248, bà Gọn cũng không có mối quan hệ quen biết gì với bị can Vũ Văn Đ. Tiến hành rà soát, xác minh nhân thân “Trí” tại xã HB, Đông Anh, Hà Nội được chính quyền địa phương xã HB cung cấp: Trên địa bàn xã HB không có công dân tên “Trí” có đặc điểm như Đ khai. Ngoài những tài liệu nói trên không có tài liệu nào khác để chứng minh nên không làm rõ được.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29S1- 903.09; SK: 347118; SM: 01213373 chủ sở hữu là chị Bùi Kiều Trang (SN: 1999; HKTT: HB, HB, Đông Anh, Hà Nội, là em dâu của Vũ Văn Đ). Vũ Văn Đ sử dụng xe đi mua ma tuý chị Trang không biết, chị Trang có đơn đề nghị xin lại xe để phục vụ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Ngày 12/01/2023, Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy trên cho chị Trang.
Tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKSĐA ngày 10/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã quyết định truy tố bị cáo Vũ Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại Phiên tòa:
Bị cáo Vũ Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đề nghị Hội Đ xét xử:
Áp dụng Điểm c, Khoản 1, Điều 249; Điểm s, Khoản 1 Điều 51, Điều 38; Bộ Luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Vũ Văn Đ từ 13 tháng đến 16 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo là con nghiện, không có nghề nghiệp ổn định.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,564 gam ma tuý loại Methamphetamine chứa trong 01 phong bì niêm phong; 01 sim điện thoại.
Tịch thu sung vào ngân sách: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74 là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội Đ xét xử nhận định:
Về hành vi và tội danh của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội Đ xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 01/01/2023 tại trục đường liên xã thuộc Khu dân cư TL, xã HB, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, bị cáo Vũ Văn Đ đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,692 gam ma túy Methamphetamine. Bị cáo khai mua về mục đích để sử dụng trái phép thì bị cơ quan Công an bắt giữ.
Như vậy hành vi của bị cáo Vũ Văn Đ đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...
c) .. Methamphetamine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;....
Hành vi tàng trữ trái phép ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý và chất gây nghiện khác, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, mà còn làm gia tăng các tệ nạn về ma tuý và các loại tội phạm khác trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung, huyện Đông Anh nói riêng. Ma túy với một tác hại khôn lường do sức tàn phá của nó đối với người sử dụng và cộng Đ, chính vì vậy mà Nhà nước và cả xã hội ra sức đấu tranh, bài trừ.
Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hoàn cảnh của bị cáo có khó khăn Hội Đ xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung như mức hình phạt như Viện kiểm sát đề nghị là thỏa đáng.
Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định hoàn cảnh kinh tế của bị cáo là khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan điều đã thu giữ:
- 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,564 gam ma tuý loại Methamphetamine (còn lại sau giám định) và 01 sim điện thoại là vật chứng, phương tiện liên lạc nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Tịch thu sung vào ngân sách: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74 là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Đông Anh thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử. Kết luận điều tra của công an Đông anh, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh và đề nghị hình phạt áp dụng với bị cáo là đúng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội Đ xét xử.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào Điểm c, Khoản 1, Điều 249; Điều 38; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn Đ 13 (mƣời ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 01/01/2023 đến ngày 06/01/2023.
2. Về xử lý vật chứng, án phí:
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử:
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74 thu giữ của bị cáo.
Tịch thu tiêu ủy: 0,564 gam ma tuý loại Methamphetamine chứa trong 01 phong bì niêm phong (còn lại sau giám định) và 01 sim điện thoại.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/4/2023 giữa Công an huyện Đông Anh và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội).
Bị cáo Vũ Văn Đ phải nộp 200.000 Đ án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI Đ XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Đông Anh; - Công an huyện Đông Anh; - Chi cục THADS huyện Đông Anh; - Sở TP Thành phố Hà Nội; - UBND xã HB ; - Lưu hồ sơ. HỘI Đ XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Trung Trực THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |