vanban.org

Bản án 72/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Tuyên án 31/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ…

Tuyên bố các bị cáo Dương Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Dương Văn H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ 06 tháng 4 năm 2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn H "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2023/HS-ST
Ngày 31- 7 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bui Thị Nguyệt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Luân.

Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hiền - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2023 đối với:

- Bị cáo: Dương Văn H, sinh năm 1974; tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn D, xã Đg, huyện K, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn Qu (đã chết) và bà Dương Thị M (đã chết); vợ: Lê Thị H; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2004; tiền sự; tiền án: Không; đặc điểm nhân thân: Ngày 23/7/2012, Tòa án nhân dân huyện Mộc châu, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 29/7/2015, Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 22/12/2020, Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; tạm giữ ngày 06/4/2023, tạm giam ngày 12/4/2023; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thị Nh -Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Dương Thị H, sinh năm 1997; trú tại: Tổ dân phố Đ, phường D, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Trần Văn H, sinh năm 1968. Anh Trịnh Văn T, sinh năm 1973; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 9 giờ 00 phút ngày 06/4/2023, Dương Văn H đang ở nhà tại thôn D, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam thì bạn nghiện tên là Tở xã L, huyện K, tỉnh Hà Nam gọi điện nói: “Mày xuống ngã tư Biên Hoà đón tao”, H trả lời: “Ừ”. Sau đó H điều khiển xe môtô dán nhãn YAMAHA Mio BKS 88F1-02460 đến ngã tư B thuộc thôn M, xã Ng, huyện K, tỉnh Hà Nam thì gặp T đang đứng ở lề đường, T nói với H: “Ông có tiền không góp vào đây đi làm quả hàng về chơi”, hiểu ý T bảo góp tiền để đi mua ma tuý về cùng sử dụng nên H nói: “Tao chỉ có một trăm” và lấy trong túi quần ra 100.000đồng đưa cho T, T cầm tiền và nói với H: “Đưa tao mượn xe để đi lấy hàng”, H đưa xe cho T và đứng chờ còn T điều khiển xe môtô đi khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho H 01 gói giấy bạc màu vàng và nói: “Cầm lấy hàng đi mua xi lanh về nhà tôi sử dụng”, H biết đó là ma tuý nên cầm ở tay trái. Khoảng 11 giờ cùng ngày, T điều khiển xe môtô chở Hiển đi đến khu vực chợ Đ, xã Đ, huyện K thì dừng xe nói với H: “Mày ngồi chờ tao tao vào mua xi”, T đi vào chợ Đ mua xi lanh còn H ngồi trên xe chờ thì lực lượng Công an xã Đồng Hoá phát hiện bắt quả tang H đang tàng trữ tại lòng bàn tay trái 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng. H khai đó là chất ma túy để sử dụng. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Dương Văn H không phát hiện, thu giữ được gì.

Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại lòng bàn tay trái của Dương Văn H 01 gói nhỏ bọc bằng giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng, niêm phong trong phong bì kí hiệu QT01; thu tại túi quần sóoc bên phải phía trước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu hồng nhạt, niêm phong trong phong bì kí hiệu QT02; tạm giữ của Dương Văn H 01 xe mô tô dán nhãn YAMAHA Mio BKS 88F1-02460. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Dương Văn H không phát hiện tu giữ đồ vật gì.

Tại bản kết luận giám định số 194/KL-KTHS ngày 11/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,235gam loại Heroine.

Cáo trạng số 68/CT-VKS-KB ngày 26/6/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo Dương Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Dương Văn H từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 06/4/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 194/KTHS của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề mẫu vật hoàn trả QT01. Trả lại cho bị cáo Hiển 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màn hình cảm ứng, màu hồng. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo nhất trí với ý kiến của người bào chữa, nhất trí với cáo trạng, luận tội của Viện kiểm sát, không ai có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Kim Bảng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Dương Văn H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

Có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 06/4/2023, Công an xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam tuần tra trên đoạn đường ĐT498 thuộc thôn 2 L, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt quả tang Dương Văn H đang tàng trữ tại lòng bàn tay trái 01 gói nhỏ bọc bằng giấy bạc màu vàng bên trong chứa 0,235 gam Heroine với mục đích để sử dụng.Hành vi đó của bị cáo Dương Văn H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi cất giấu 0,235gam chất ma túy để sử dụng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chất ma túy không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm trong xã hội.

Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu.

Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Từ phân tích trên, xét thấy cần xử phạt nghiêm bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn tương xứng tính chất, mức độ tội phạm của bị cáo thực hiện mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người mắc nghiện ma túy, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Gồm 01 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 194/KTHS của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề mẫu vật hoàn trả QT01 là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu hồng, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo nhưng không phải là vật chứng nên trả lại cho bị cáo theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01chiếc xe mô tô dán nhãn YAMAHA Mio BKS 88F1-02460 là tài sản hợp pháp của chị H. Chị H không biết bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô trên vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã trả lại cho chị H. Sau khi chị H nhận lại tài sản không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về các vấn đề khác trong vụ án:

Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Bị cáo khai do bị cáo góp 100.000đồng với bạn nghiện tên T ở xã L, huyện K để T đi mua về cùng sử dụng. Do bị cáo không biết họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cụ thể của T nên Cơ quan điều tra Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam không có căn cứ để xác minh làm rõ được.

[7 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên bố các bị cáo Dương Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Dương Văn H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ 06 tháng 4 năm 2023.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 194/KL-KTHS của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi ghi mẫu vật hoàn trả QT01. Trả lại cho bị cáo Dương Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu hồng, màn hình cảm ứng, bên trong lắp 01 thẻ sim Vieettel, máy đã qua sử dụng. (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Kim Bảng với Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam ngày 27/6/2023).

3. Án phí:Bị cáo Dương Văn H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ