- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thạch Thị Trúc H truy tố tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thạch Thị Trúc H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2023/HS-ST Ngày: 27 – 3 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Văn Nhung;
2. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An và điểm cầu thành phần tại Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Thạch Thị Trúc H, sinh năm 2001 tại tỉnh Sóc Trăng; thường trú: Ấp A, xã T 2, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở: số 32C/16 khu phố Đ, phường B, thành A1, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Nhân viên phục vụ; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Khơmer; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Văn H3, sinh năm 1973 và bà Võ Thị D1, sinh năm 1972; bị cáo có 01 anh, sinh năm 1992; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2022 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị L Niê, sinh năm 1995; địa chỉ: Xã Đ1, thị xã B2, tỉnh Đắk Lắk; Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Huỳnh Vũ Bảo L, sinh năm 1997; địa chỉ: Số 128 Nguyễn Văn C, phường L, thành phố T3, tỉnh Đắk Lắk; Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt;
2. Bà Lâm Kim H1, sinh năm 1984; địa chỉ: Số 2009/49/8 Phạm Thế H6, Phường U, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh; Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt;
3. Anh Trần Vũ L1, sinh năm 1992; địa chỉ: Ấp A, xã T 2, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt;
4. Anh Lại Văn N1, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn 8, xã K, huyện C1, tỉnh Đắk Lắk; Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
5. Anh Đặng Tùng L2, sinh năm 1994; địa chỉ: 520 Quốc lộ 13, phường P1, thành phố Đ2, Thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt;
6. Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1975; địa chỉ: TDP 3, thị trấn T7, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt;
7. Chị Hồ Nữ Hoàng A, sinh năm 2001; địa chỉ: TDP 3, thị trấn Buôn T7, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thạch Thị Trúc H quen biết chị L Niê trên mạng xã hội Facebook khoảng từ ngày 10/2/2022. Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 26/2/2022 H rủ chị L Niê đến phòng trọ của H chơi thì chị L Niê đồng ý. Khoảng 40 phút sau, chị L Niê điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision mày trắng, biển số 47C1-86.11 đến cầu vượt Sóng Thần rồi H đi bộ từ phòng trọ ra đón. Chị L Niê đã chở H đến một quán cà phê không tên gần khu vực cầu vượt Sóng Thần để uống nước. H giả vờ nói chị L Niê cho H mượn xe về phòng trọ lấy đồ, lúc này chị L Niê nói muốn đi cùng nên H chở chị L Niê đến đoạn đường Đoàn Thị Đ giao với quốc lộ 1A thì dừng xe lại rồi nói chị L Niê xuống xe đợi H vào phòng lấy đồ thì chị L Niê xuống xe. Khi chị L Niê vừa xuống xe thì H điều khiển xe về phòng trọ. Tại phòng trọ, H mở cốp xe ra thì thấy có giấy chứng nhận đăng kí xe biển số 47C1-386.11 và chứng minh nhân dân của chị L Niê. Sau đó, H điều khiển xe đến Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh chơi, khi đi trên đường khoảng 15 phút thì H dừng xe lại mua 01 nón bảo hiểm và mở cốp xe lên xem lại thì phát hiện trong cốp xe có 3.000.000đ tiền mặt gồm 06 tờ tiền mệnh giá 500.000đ để bên trong 01 túi nhựa. Đến trưa ngày 28/02/2022. H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision màu trắng, biển số 47C1-386.11 đến cửa hàng mua bán xe máy cũ “Thành Đạt” địa chỉ số 1548 đường Phạm Thế Hiển, phường 6, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh do chị Lâm Kim H1 làm chủ. Tại đây, H nói kẹt tiền nên cần bán xe mô tô biển số: 47C1-386.11 đang đi với giá 20.000.000đ rồi đưa giấy đăng ký xe và giấy chứng minh nhân dân mang tên L Niê cho chị Lâm Kim H1 kiểm tra thì chị Lâm Kim H1 đồng ý. H giả chữ ký tên Niê vào giấy tờ mua bán xe rồi lấy số tiền 20.000.000đ cùng 3.000.000đ trong cốp xe, tổng là 23.000.000đ, H tiêu xài hết. Đến ngày 06/10/2022, khi đang đi công việc ở khu vực bệnh viện Hoàn Hảo, thuộc phường A3, thành phố A4, tỉnh Bình Dương thì chị L Niê gặp lại H nên chị L Niê yêu cầu H đến trụ sở Công an phường An Bình đầu thú. Công an phường A3 lập biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú. Sau đó chuyển giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An xử lý theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra xác định, ngày 06/3/2022, chị Lâm Kim H1 bán chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen-trắng, biển số 47C1-386.11 cho anh Đặng Tùng L2 với giá 23.000.000đ. Cùng ngày, anh Đặng Tùng L2 bán lại chiếc xe này cho anh Huỳnh Vũ Bảo L với giá 25.500.000đ.
Đến ngày 22/3/2022, anh Huỳnh Vũ Bảo L bán chiếc này cho chị Nguyễn Thị H2 với giá 30.200.00đ, chị Hoài cho con gái là chị Hồ Nữ Hoàng A đứng tên chủ sở hữu. Anh Huỳnh Vũ Bảo L nhận làm thủ tục sang tên đổi chủ cho chị Hồ Nữ Hoàng A, sau đó anh Huỳnh Vũ Bảo L đưa giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên L Niê, giấy CMND bản photo mang tên L Niê và giấy CCCD mang tên Hồ Nữ Hoàng A cho anh Lại Văn N1 nhờ làm thủ tục sang tên đổi chủ. Anh Nam liên hệ người phụ nữ tên Trang (chưa rõ nhân thân lai lịch) ở thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana để ký chứng thực hợp đồng mua bán xe tại UBND thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Khi nhận được giấy chứng thực hợp đồng mua bán xe mô tô biển số: 47C1-386.11 do UBND thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk chứng thực, anh Lại Văn N1 gửi hồ sơ sang nhượng xe mô tô trên để làm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hồ Nữ Hoàng A sau đó giao lại cho anh Huỳnh Vũ Bảo L, anh Huỳnh Vũ Bảo L giao lại giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hồ Nữ Hoàng A cho chị Nguyễn Thị H8 sử dụng.
Qua xác minh UBND thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk không cấp giấy chứng thực hợp đồng mua bán xe mô tô biển số 47C1-386.11, người tiếp nhận hồ sơ (theo thông tin trên chứng thực hợp đồng là ông Hoàng Thanh Tùng). UBND thị trấn B, huyện K có ông Hoàng Thanh T9(sinh năm: 1990; HKTT: Thôn 1, thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk) là nhân viên hợp đồng bộ phận tư pháp nhưng hiện đã bị cho thôi việc. Hiện ông Tùng không có mặt tại nơi cư trú.
Theo kết luận định giá số 142/BBĐG-HĐĐGTS ngày 10/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Dĩ An, xác định: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Vison, màu trắng – đen, biển số 47C1-386.11, số khung: RLHJF83XLZ016124, số máy: JK86E7016178 trị giá 30.000.000đ.
Tại Bản Cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 31/01/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Thạch Thị Trúc H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố đối với bị cáo Thạch Thị Trúc H và đề nghị: Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm, xử phạt bị cáo Thạch Thị Trúc H từ 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về trách nhiệm dân sự:
+ Bị hại L Niê yêu cầu bồi thường số tiền 6.000.000đ và nhận lại xe mô tô biển số 47C1-386.11. Anh Trần Vũ L1 là anh trai của Thạch Thị Trúc H đã bồi thường số tiền 6.000.000đ cho chị L Niê và không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên. Chị L Niê đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu bồi thường dân sự gì thêm.
+ Ngày 28/12/2022, chị Lâm Kim H1 bồi thường khắc phục hậu quả cho anh Đặng Tùng L2 số tiền 20.000.000đ, chị Lâm Kim H1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000đ.
+ Ngày 28/12/2022, chị Lâm Kim H1 bồi thường cho anh Đặng Tùng L2 số tiền 20.000.000 đồng, cùng ngày anh Đặng Tùng L2 bồi thường cho anh Huỳnh Vũ Bảo L số tiền 22.000.000đ, anh Đặng Tùng L2, anh Huỳnh Vũ Bảo L đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
+ Ngày 29/12/2022, anh Huỳnh Vũ Bảo L bồi thường cho chị Nguyễn Thị H2 số tiền 29.500.000đ, chị Nguyễn Thị H2 đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Về xử lý vật chứng:
+ Xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen trắng, biển số: 47C1-386.11, số khung: RLHJF583XLZ016124, số máy: JK86E7016178 là tài sản của bị hại chị L Niê nên đề nghị trả lại xe cho bị hại;
+ Giấy đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen trắng, biển số: 47C1-386.11, số khung: RLHJF583XLZ016124, số máy: JK86E7016178 mang tên Hồ Nữ Hoàng A đề nghị chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công An thành phố Dĩ An để điều tra xử lý theo thẩm quyền.
+ Đối với vụ việc ký hợp đồng mua bán xe xảy ra tại thị trấn Buôn Trấp, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã có công văn đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện K, tỉnh Đắk Lắk tiếp nhận thụ lý theo thẩm quyền.
Tại phiên tòa, bị cáo Thạch Thị Trúc H không tranh luận với Bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo có điều kiện cải tạo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm Sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo, bị hại và các đương sự khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
Căn cứ lời khai của bị cáo Thạch Thị Trúc H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:
Thạch Thị Trúc H có hành vi dùng thủ đoạn gian dối, nói dối mượn xe Honda Vision, màu đen trắng, biển số: 47C1-386.11 của chị L Niê rồi chiếm đoạt chiếc xe trị giá 30.000.000đ cùng số tiền 3.000.000đ trong cốp xe của chị L Niê tại khu vực đường Đoàn Thị Đ, phường A3, thành phố A4, tỉnh Bình Dương, tổng giá trị tài sản bị cáo Thạch Thị Trúc H chiếm đoạt của bị hại L Niê là 33.000.000đ.
Như vậy, hành vi của Thạch Thị Trúc H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng số 64/CT-VKS.DA ngày 31/01/2023 của Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Về tính chất mức độ tội phạm: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi chiếm đoạt số tiền 33.000.000đ của bị hại L Niê là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nên bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú, bị cáo đã bồi thường khắc phục một phần hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, bị cáo có nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự.
Về hình phạt: Xét bị cáo xâm phạm đến tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự:
+ Bị hại chị L Niê yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 6.000.000đ và nhận lại Honda Vision, màu đen trắng, biển số: 47C1-386.11; gia đình bị cáo đã bồi thường 6.000.000đ cho bị hại L Niê. Bị hại L Niê không yêu cầu gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lâm Kim H1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 20.000.000đ, là tiền bà H mua xe mô tô biển số 47C1-386.11. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý trả lại cho chị Lâm Kim H1 số tiền trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
+ Chị Lâm Kim H1 bồi thường cho anh Đặng Tùng L2 số tiền 20.000.000đ, cùng ngày anh Đặng Tùng L2 bồi thường cho anh Huỳnh Vũ Bảo L số tiền 22.000.000đ, anh Đặng Tùng L2, anh Huỳnh Vũ Bảo L đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.
+ Anh Huỳnh Vũ Bảo L bồi thường cho chị Nguyễn Thị H2 số tiền 29.500.000đ, chị Nguyễn Thị H2 đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng:
+ Xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen trắng, biển số: 47C1-386.11, số khung: RLHJF583XLZ016124, số máy: JK86E7016178 bị cáo chiếm đoạt của bị hại L Niê, do đó cần tuyên trả lại cho bị hại;
+ Giao lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Giấy đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen trắng, biển số: 47C1-386.11, số khung: RLHJF583XLZ016124, số máy: JK86E7016178 mang tên Hồ Nữ Hoàng A để điều tra giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp.
Bị hại Chị H’Lich Nie có quyền liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen trắng, biển số: 47C1-386.11, số khung: RLHJF583XLZ016124, số máy: JK86E7016178.
Đối với vụ việc ký hợp đồng mua bán xe xảy ra tại thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã có công văn đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk tiếp nhận thụ lý theo thẩm quyền là phù hợp.
Từ những nhận định nêu trên, nhận thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, loại hình phạt, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Thạch Thị Trúc H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng Khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Thạch Thị Trúc H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 468, 584, 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 19/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Buộc bị cáo Thạch Thị Trúc H trả cho bà Lâm Kim H1 số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 89, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen trắng, biển số: 47C1-386.11, số khung: RLHJF583XLZ016124, số máy: JK86E7016178 cho bà L Niê;
- Giao lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An Giấy đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đen trắng, biển số: 47C1-386.11, số khung: RLHJF583XLZ016124, số máy: JK86E7016178 mang tên Hồ Nữ Hoàng A để điều tra giải quyết theo thẩm quyền.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/02/2023 tại Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương)
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Thạch Thị Trúc H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000đ (một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Dĩ An; - Công an thành phố Dĩ An; - Chi cục THADS thành phố Dĩ An; - PV 06 - Công an tỉnh Bình Dương; - PC 10 - Công an tỉnh Bình Dương; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương |