vanban.org

Bản án 72/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 27/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Nhất C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Nhất C 10 (Mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/11/2022; Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Nhất C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Nhất C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2023/HS-ST
Ngày 27/06/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Bình

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Kim Phượng.

2. Bà Lã Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Quỳnh Anh, Thư ký - Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Thắng, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 06 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình; xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 04 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 06 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và Tên: Nguyễn Nhất C, (Tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1981, tại Ninh Bình; Trú tại: số nhà 116, đường V, Phố 8, phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nơi ở trước khi bị bắt: số nhà 314, đường T, phố T, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Ngọc Đ và bà Nguyễn Thị H; Vợ con: Chưa có

* Tiền án:

- Bản án số 10/2010/HSST ngày 09/02/2010, Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Hà Nam xử phạt 42 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 16/7/2013.

- Bản án số 32/2014/HSST ngày 10/7/2014, Tòa án nhân dân huyện Ý, tỉnh Nam Định xử phạt 08 năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 01/06/2021.

* Tiền sự: Chưa có;

* Nhân thân bị cáo:

- Ngày 20/7/1999, Công an thị xã N, tỉnh Ninh Bình bắt, lập danh chỉ bản số 413 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Ngày 31/5/2000, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình ra Quyết định số 708 đưa đối tượng vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng.

- Tại bản án số 146, ngày 29/6/2004, Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Ngày 02/9/2013, Công an phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình ra quyết định xử phạt hành chính số 32, phạt tiền 500.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/11/2022 đến ngày 01/12/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình, (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phạm Mạnh H, địa chỉ: phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, (Vắng mặt).

Người Làm chứng: Anh Phạm Quốc H, (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22/11/2022, C thuê xe ôm của 01 người đàn ông không quen biết đi từ thành phố N đến khu vực nhà ba tầng thuộc thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tìm mua ma túy Heroine về sử dụng và bán kiếm lời. Tại đây, C gặp 01 người đàn ông khoảng 30 tuổi (không rõ tên tuổi lai lịch địa chỉ cụ thể), C mua của người đàn ông này 01 túi Heroine có đặc điểm là túi nilong màu trắng miệng túi có viền màu đỏ bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng với giá tiền 16.000.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, C đi xe ôm về phòng trọ của mình địa chỉ số 314, đường T, phố T, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Tại đây, C lấy túi Heroine mua được chia ra thành 02, sau đó cất 02 túi Heroine trên cục lạnh điều hòa lắp trong phòng trọ.

Sáng ngày 23/11/2022, C lấy 01 túi Heroine trên cục lạnh điều hòa xuống lấy một phần rồi chia ra thành nhiều gói nhỏ được gói bằng các mảnh giấy bạc màu trắng và vàng (không nhớ chia ra bao nhiêu gói), các gói nhỏ Heroine này C mang theo người để sử dụng và để bán. Số Heroine còn lại C cất giấu lên chỗ cũ. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi C đang ở phòng trọ thì có anh Phạm Mạnh H, sinh năm 1986, trú tại phố P 2, phường N, thành phố N sử dụng số điện thoại 0919610513 gọi đến số điện thoại 0776488503 của C hỏi mua 500.000 đồng Heroine, C đồng ý và hẹn H đi đến đoạn đường gần cây xăng N thuộc phố P, phường N, thành phố N để mua bán ma túy. Khoảng 15 phút sau, H gọi điện cho C nói đã đến điểm hẹn, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirus màu trắng biển kiểm soát 35F5-9218 đến gặp H. Tại đây, H đưa cho C 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, C cầm lấy tiền đồng thời đưa lại cho H 01 gói Heroine có đặc điểm được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng rồi điều khiển xe đi về phòng trọ. Khoảng 11 giờ ngày 25/11/2022, C mang 02 gói Heroine đã chia từ ngày 23/11/2022 (01 gói được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng và 01 gói được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng) để trong túi quần bên phải phía trước và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirus màu trắng biển kiểm soát 35F5-9218 đến quán cơm Sinh Hạnh ở phố 2, phường V, thành phố N để ăn cơm thì H tiếp tục sử dụng số điện thoại 0919610513 gọi đến số điện thoại 0776488503 của C hỏi mua 500.000 đồng Heroine. C đồng ý và nói H đến quán cơm Sinh Hạnh lấy ma túy mà C bán. Lúc này Tổ công tác thuộc phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Ninh Bình phối hợp cùng Công an phường V, thành phố N đang làm nhiệm vụ ở khu vực trên, thấy Tổ công tác C nghĩ hành vi cất giữ ma túy của mình đã bị phát hiện nên đã tự giác lấy từ túi quần bên phải phía trước đang mặc 02 gói trong đó 01 gói được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng và 01 gói được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng giao cho tổ công tác. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng vào trong phong bì ký hiệu Q1 theo đúng quy định của pháp luật và đưa C cùng vật chứng và mời anh Phạm Mạnh H cùng người làm chứng về Trụ sở Công an phường V lập biên bản quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của C số tiền 5.000.000 đồng và 02 máy điện thoại di động trong đó 01 máy điện thoại hiệu Iphone màu xanh lắp sim số 0776488503, 01 máy điện thoại hiệu Vivo màu đen lắp sim số 0784039602. Thu giữ của C 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirus màu trắng đeo biển kiểm soát 35F5-9218. Thu giữ của Phạm Mạnh H gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen bên trong lắp sim số 0919610513 và 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen bên trong không lắp sim.

Cơ quan điều tra thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với nơi ở của Nguyễn Nhất C tại phòng trọ số 5 số nhà 314, đường T, phố T, phường N, thành phố N thu giữ: Thu trên mặt phía trên cục lạnh điều hòa 02 túi nilong màu trắng viền mép túi có đường kẻ chỉ màu đỏ (túi thứ nhất có kích thước 4x6,5cm, túi thứ hai kích thước 5x7,5cm) bên trong hai túi đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, 02 túi nilong này được niêm phong trong phong bì ký hiệu K. Thu trên mặt giường 01 cân tiểu ly điện tử (mặt phía trên màu bạc, mặt phía dưới màu đen) nắp đậy pin bằng bìa carton màu vàng, kích thước 5,5x8,1x1,5cm, 01 dao lam, 03 túi nilong màu trắng viền mép túi có đường kẻ chỉ màu đỏ, cả ba túi đều có kích thước 4x6,5cm, 10 mảnh giấy bạc màu vàng hình dạng không xác định, kích thước khác nhau.

Tiến hành cân chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Nhất C trong 02 gói niêm phong trong phong bì Q1 có tổng khối lượng là 0,2114 gam được cho vào túi nilon kí hiệu M1. Chất bột dạng cục màu trắng trong túi nilong kích thước 4x6,5cm niêm phong trong phong bì K có khối lượng 2,3129 gam được cho vào túi nilon kí hiệu M2. Chất bột dạng cục màu trắng trong túi nilong kích thước 5x7,5cm niêm phong trong phong kì K có khối lượng 13,9186 gam được cho vào túi nilon kí hiệu M3. Gửi các mẫu kí hiệu M1, M2, M3 đi giám định để xác định khối lượng chất ma túy, loại chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 840/KL-KTHS-MT ngày 01/12/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,2144 gam, M2 có khối lượng 2,3129 gam, M3 có khối lượng 13,9186 gam. Tổng khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong 03 mẫu M1, M2, M3 là 16,4429 gam đều là ma túy, loại Heroine. Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục I, số thứ tự 9; Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1359 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 1,9489 gam, ký hiệu M3 có khối lượng 13,1610 gam đều là ma túy, loại Heroine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong một phong bì ghi số 840/KL-KTHS-MT MT theo đúng quy định của pháp luật.

Bản cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 12/04/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, đã truy tố bị cáo Nguyễn Nhất C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i, q khoản 2, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự (BLHS).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, không ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 840/KL-KTHS-MT ngày 01/12/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Nhất C đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhất C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm b, i, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt Nguyễn Nhất C từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2022. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ để sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

- Tịch thu tiêu hủy chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1359 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 1,9489 gam, ký hiệu M3 có khối lượng 13,1610 gam đều là ma túy, loại Heroine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong một phong bì ghi số 840/KL-KTHS-MT theo đúng quy định của pháp luật do cơ quan giám định hoàn trả lại, 01 cân tiểu ly điện tử kích thước 5,5x8,1x1,5cm, 01 dao lam, 03 túi nilong màu trắng viền mép túi có đường kẻ chỉ màu đỏ đều có kích thước 4x6,5cm, 10 mảnh giấy bạc màu vàng hình dạng không xác định, kích thước khác nhau, 01 sim số thuê bao 0776488503, 01 sim số thuê bao 0784039602.

- Trả lại cho bị cáo số tiền 5.000.000đ;

- Buộc bị cáo nộp lại số tiền 500.000đ để sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai người làm chứng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ; Biên bản khám xét; kết luận giám định số 840/KL-KTHS-MT ngày 01/12/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận khoảng 16 giờ ngày 23/11/2022 tại khu vực đường gần cây xăng N thuộc phố P, phường N, thành phố N, Nguyễn Nhất C có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy Heroine với giá 500.000 đồng cho Phạm Mạnh H. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 25/11/2022, tại quán cơm Sinh Hạnh thuộc phố 2, phường V, thành phố N, Nguyễn Nhất C có hành vi cất giấu trái phép 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,2114 gam mục đích để bán cho Phạm Mạnh H thì bị phát hiện bắt quả tang. Khám xét nơi ở của Nguyễn Nhất C tại phòng trọ số 5 số nhà 314, đường T, phố T, phường N, thành phố N thu giữ 02 gói Heroine có tổng khối lượng 16,2315 gam, Cường cất giấu nhằm mục đích để sử dụng và có ai hỏi mua thì bán để bán kiếm lời. (Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục I, số thứ tự 9; Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).

Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về việc trao đổi chất ma tuý. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự cũng như biết rất rõ tác hại của ma tuý ảnh hưởng đến sức khoẻ, kinh tế, trật tự xã hội. Chỉ vì lợi nhuận bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện tội phạm. Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự, thấy: hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Vì vây, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma tuý

1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

…………………………………………………..

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

…………………………………………………..

i) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

…………………………………………………..

q. Tái phạm nguy hiểm;

…………………………………………………..

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 triệu đồng đến 500.000.000 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Hành vi của Nguyễn Nhất C thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Heroine …. có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”; “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm b, i q khoản 2 Điều 251 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng: các tiền án của bị cáo là dấu hiệu định khung hình phạt nên không bị coi là tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt, tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo, học tập, cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS; Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Bị cáo phạm tội vì mục đích tư lợi do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với mức tiền 5.000.000đ đối với bị cáo là phù hợp.

. Về xử lý vật chứng:

- Đối với chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1359 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 1,9489 gam, ký hiệu M3 có khối lượng 13,1610 gam đều là ma túy, loại Heroine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong một phong bì ghi số 840/KL-KTHS-MT theo đúng quy định của pháp luật do cơ quan giám định hoàn trả là vật nhà nước cấm lưu hành vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 cân tiểu ly điện tử kích thước 5,5x8,1x1,5cm, 01 dao lam, 03 túi nilong màu trắng viền mép túi có đường kẻ chỉ màu đỏ đều có kích thước 4x6,5cm, 10 mảnh giấy bạc màu vàng hình dạng không xác định, kích thước khác nhau, 01 sim số thuê bao 0776488503, 01 sim số thuê bao 0784039602 không có giá trị sử dụng vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền 5.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Nhất C, quá trình điều tra và tại phiên tòa xá định không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo.

. Các biện pháp tư pháp: quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định khoảng 16 giờ ngày 23/11/2022 Cường bán cho Phạm Mạnh H, sinh năm 1986, trú tại phố P 2, phường N, thành phố N 01 gói Heroine được 500.000đ, do đó cần buộc Cường nộp lại số tiền 500.000đ để sung nộp ngân sách Nhà nước.

Các vấn đề khác:

- Về nguồn gốc Heroine Cường bán cho Phạm Mạnh H và 16,2315 gam Heroine thu giữ khi khám xét tại phòng trọ của C, quá trình điều tra Cường khai nhận mua của 01 người đàn ông khoảng 30 tuổi vào sáng ngày 22/11/2022 tại thành phố Nam Định, C không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này, Cơ quan CSĐT công an thành phố N đã tách phần tài liệu liên quan đến người đàn ông này để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ.

- Đối với Phạm Mạnh H, ngày 23/11/2022, Hùng liên hệ mua của Nguyễn Nhất C 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng, sau đó mang về nhà tại phố P 2, phường N, thành phố N sử dụng hết. Đến khoảng 11 giờ ngày 25/11/2022, H tiếp tục liên hệ mua của Nguyễn Nhất C 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng nhưng chưa mua được. Do đó không đủ căn cứ để xử lý H về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của H ngày 23/11/2022 khi lên làm việc với Cơ quan điều tra H khai nhận nhưng không có cơ sở để xác định xử lý đối với H

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo màu đen. Quá trình điều tra xác định 02 chiếc điện thoại trên là của anh Nguyễn Kim C1, sinh năm 1987, trú tại phố 4, phường V, thành phố N là em trai C. Tháng 12/2021, do C mới chấp hành án phạt tù chưa có việc làm ổn định, chưa có thu nhập nên anh C1 đã cho C mượn 02 chiếc điện thoại trên để sử dụng khi nào mua được điện thoại thì trả lại cho anh C1. Anh C1 không biết C sử dụng điện thoại của mình để liên lạc trao đổi mua bán ma túy. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Kim C1 02 chiếc điện thoại trên theo quy định pháp luật.

- Đối với chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirus màu trắng đeo biển kiểm soát 35F5-9218 có số khung RLCS5C640BY612528, số máy 5C64-612536, quá trình điều tra C khai chiếc xe trên là của bố đẻ Nguyễn Ngọc Đ sinh năm 1961 trước khi chết để lại cho C và em trai là anh Nguyễn Kim C1. Cả C và anh C1 đều không biết nguồn gốc chiếc xe ông Đ mua của ai ở đâu. Kết quả tra cứu tại Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố N biển số xe 35F5-9218 là xe mô tô nhãn hiệu ORIENTAL có số máy 00503741, số khung 20041241, tên chủ xe là Trần Văn Dũng, địa chỉ phường Thanh Bình, thành phố N, anh Dũng khai nhận chưa từng đăng ký xe hoặc đăng ký hộ ai và không biết biển số xe 35F5 - 9218 mang tên mình. Số khung RLCS5C640BY612528, số máy 5C64-612536 không có dữ liệu trùng khớp với xe nào. Do đó không xác định được nguồn gốc của chiếc xe, Cơ quan điều tra đã tách phần tài liệu liên quan đến chiếc xe để xử lý sau.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen bên trong lắp sim số 0919610513 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen thu giữ của Phạm Mạnh H. Quá trình điều tra xác định 02 chiếc điện thoại trên là của anh Đoàn Văn K sinh năm 1986 trú tại phố Đ, phường T, thành phố N. Ngày 02/11/2022, H đến nhà anh K mượn chiếc điện thoại nhãn hiệu Masstel màu đen bên trong lắp sim số 0919610513 để liên lạc. Đồng thời anh K đưa cho H chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen nhờ H bán hộ. Anh K không biết H sử dụng điện thoại cùng sim để liên lạc mua bán ma túy do đó Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Đoàn Văn K 02 chiếc điện thoại nói trên cùng sim số 0919610513 theo quy định pháp luật.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo qui định;

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm b, i, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 46: Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 các điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; các điều 21, 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu án phí Tòa án.

1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Nhất C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Nhất C 10 (Mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/11/2022;

- Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

2. Xử lý vật chứng:

2.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ghi số 840/KLGĐ-KTHS-MT; 01 phong bì niêm phong ký hiệu V; 01 vỏ phong bì ký hiệu Q3; 01 cân điện tử; 01 dao lam; 03 túi nilon màu trắng; 10 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 phong bì niêm phong ký hiệu H;

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/04/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N, tỉnh Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự dân sự thành phố N, tỉnh Ninh Bình)

2.2. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Nhất C số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Số tiền 5.000.000đ hiện đang ở tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N, tỉnh Ninh Bình tại kho bạc Nhà nước thành phố N, theo uỷ nhiệm chi số 70 lập ngày 24/04/2023.

3. Các biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Nguyễn Nhất C phải nộp số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Nhất C phải chịu 200.000đ.

5. Quyền kháng cáo:

- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

- Anh Phạm Mạnh H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ