- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Thị B - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Lò Thị B phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN B Bản án số: 72/2023/HS-ST Ngày: 07 - 6- 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN G, TỈNH ĐIỆN B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Đình H
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Trọng D
2. Bà: Bạc Thị H
- Thư ký phiên toà: Ông Thào A Th - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuần G, tỉnh Điện B.
- Đại diện VKSND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn M - Kiểm sát viên.
Ngày 07/6/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần G, tỉnh Điện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2023/TLST-HS ngày 24/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2023/QĐXXST-HS ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuần G đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Lò Thị B; tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ; sinh năm 1968 tại xã Chiềng Sinh, huyện Tuần G, tỉnh Điện B; nơi cư trú: Bản H, xã Chiềng S, huyện Tuần G, tỉnh Điện B; quốc tịch: Việt nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: Không biết chữ; con ông: Lò Văn T, sinh năm 1940; con bà: Lò Thị T, sinh năm 1933; chồng: Lò Văn D, sinh năm 1968 và có 03 người con, con lớn nhất (Đã chết), con nhỏ nhất, sinh năm 2000; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự; nhân thân: Ngày 18/7/2016, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tuần G, tỉnh Điện B xử phạt 36 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 16/8/2018 được tha tù trước thời hạn có điều kiện, trở về địa phương sinh sống, hiện đã được xóa án tích; tiền sự: Ngày 11/7/2022 bị Công an huyện Tuần Giáo xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền, hiện chưa được xóa; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2023 đến ngày xét xử, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đỗ Xuân T và bà Lê Thị D - Trợ giúp viên pháp lý, bà D có mặt, ông T có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ, ngày 08/01/2023, Lò Thị B một mình đi bộ trên đường thuộc bản H, xã Chiềng S, huyện Tuần G thì gặp một người đàn ông dân tộc Thái, khoảng 35 tuổi, B không biết tên tuổi địa chỉ. Qua trao đổi, B đã mua được của người đàn ông đó 01 túi nilon màu hồng bên trong có chứa các viên ma túy tổng hợp và các cục Heroine với giá 600.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, B đi về nhà, khi đến nhà Biên mở túi ma túy vừa mua được ra và thấy 02 gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh và các viên ma túy tổng hợp, sau đó bị cáo gói lại số ma túy trên và cất vào túi áo khoác như cũ. Đến khoảng 15 giờ ngày 09/01/2023 khi bị cáo đang ở nhà thì có 01 người đàn ông không quen biết đến hỏi mua ma túy, B dã bán cho người đàn ông đó 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh với giá 100.000 đồng. Số tiền bán ma túy B đã sử dụng mua thức ăn hết. Đến khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày khi B đang ở nhà thì tổ công tác Công an huyện Tuần G vào kiểm tra, B đã ném túi ma túy trong túi áo khoác đang mặc ném vào chậu quần áo bên cạnh. Tổ công tác đã yêu cầu bị cáo nhặt lên giao nộp 01 túi nilon màu hồng bên trong có chứa 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh và 19 viên Methamphetamine.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng hồi 19 giờ 45 phút ngày 09/01/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần G đã xác định: Số chất cục, bột màu trắng nghi Heroine thu giữ của Lò Thị B có khối lượng 0,26 gam, lấy mẫu toàn bộ gửi giám định, 19 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp có khối lượng 2,07 gam, lấy toàn bộ 19 viên gửi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số: 178/KL-KTHS ngày 16/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện B đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định thu giữ của Lò Thị B là chất ma túy, loại Heroine. Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lò Thị B gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Hoàn lại 0,21 gam chất bột màu trắng và 0,31 gam chất bột màu hồng.
Tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố: Do bản thân lười lao động nên bị cáo đã có hành vi mua Heroine về để bán kiếm lời. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn thật thà khai báo.
Tại bản Cáo trạng số: 61/CT-VKSTG ngày 24/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G đã truy tố bị cáo về tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Thị B từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 01 túi nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì màu trắng bên trong có chứa 0,21 gam Heroine; 1,31 gam Methamphetamine.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tự bào chữa cho hành vi của mình, nhờ người bào chữa, bào chữa cho bị cáo.
Quan điểm bào chữa của người bào chữa: Nhất trí với bản Cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhất trí với việc đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét thêm các tình tiết về nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo, bị cáo không biết chữ để áp dụng mức hình phạt khởi điểm mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Bị cáo không bổ sung gì vào lời bào chữa.
Người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm, không tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Bị cáo không có quan điểm tranh luận.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 15 giờ 20 phút, ngày 09/01/2023, tại Nhà ở của Lò Thị B, bị cáo bị bắt quả tang khi đang thực hiện hành vi cất giấu trái phép 0,26 gam Heroine và 2,07 gam Methamphetamine, tổng khối lượng 2 chất ma túy là 2,33 gam nhằm mục đích bán kiếm lời.
Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02); biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng (BL80 - 81); kết luận giám định (BL84); các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay. Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Với tác hại của chất ma túy đối với sức khỏe con người và mối nguy hại của nó đối với gia đình và xã hội. Nhà nước và toàn thể nhân dân đang có những chính sách, biện pháp phòng chống ngăn chặn nhằm đẩy lùi tệ nạn và những tội phạm về ma túy thì bị cáo lại tiếp tay cho tội phạm ma túy phát triển, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Từ những phân tích trên, HĐXX khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo đã cất giấu trái phép 0,26 gam Heroine và 2,07 gam Methamphetamine, tổng khối lượng 2 chất ma túy là 2,33 gam nhằm mục đích bán kiếm lời nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Lò Thị B sinh ra và lớn lên tại huyện Tuần G, tỉnh Điện B. Bị cáo không có tiền án, nhưng có 01 tiền sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy nhiên bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng bị 01 lần xét xử: Ngày 18/7/2016, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tuần G, tỉnh Điện B xử phạt 36 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, đến ngày 16/8/2018 được tha tù trước thời hạn có điều kiện, trở về địa phương sinh sống, hiện đã được xóa án tích. Bị cáo đã không tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội, đã thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
HĐXX xem xét hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo để có mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhưng nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để lần nữa cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, xét đề nghị của đại diện VKS và người bào chữa là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết tại bản H, xã Chiềng S, huyện Tuần G, cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ được, HĐXX không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Song xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo chỉ làm nông nghiệp, là hộ nghèo, không có tài sản gì đáng giá. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo, là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên cần được tịch thu tiêu hủy. Ngày 09/01/2023, bị cáo khai đã bán ma túy cho một người đàn ông không quen biết, trông giống người nghiện 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng, cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra làm rõ việc bán ma túy của bị cáo và thu lợi được 100.000 đồng, bị cáo đã tiêu hết, HĐXX không xem xét.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 01 túi nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì màu trắng bên trong có chứa 0,21 gam Heroine; 1,31 gam Methamphetamine.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, là hộ nghèo thuộc diện được miễn án phí, có đề nghị được miễn án phí, HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
1. Về tội danh: Bị cáo Lò Thị B phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Bị cáo Lò Thị B: 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 09/01/2023.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có 01 túi nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu xanh và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; 01 phong bì màu trắng bên trong có chứa 0,21 gam Heroine; 1,31 gam Methamphetamine.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng đã được Công an huyện Tuần G bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuần G hồi 15 giờ, ngày 25 tháng 4 năm 2023)
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 07/6/2023./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện B; - VKSND tỉnh Điện B; - VKSND huyện Tuần G; - Công an huyện Tuần G (3); - Sở Tư pháp tỉnh Điện B; - THA DS TG, THA HS; - Bị cáo, NBC; - Lưu. HỘI THẨM Lò Văn Hải Lò Văn Thƣơng HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình H THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Hà |