vanban.org

Bản án 72/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 14/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Kim Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Kim Q 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 07/4/2023; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Kim Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÙNG KHÁNH
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2023/ HS-ST
Ngày 14 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thúy Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Học và bà Nguyễn Thị Minh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh - tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Bà Ma Kim Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 69/2023/TLST - HS ngày 22 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2023/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Nông Kim Q, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 12/11/1991, tại xã Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng;

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm B, xã Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Nông Kim N, sinh năm 1964 và bà Nông Thị Y, sinh năm 1964; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không có;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nông Thị B1, sinh năm 1993. Trú tại: xóm A, xã T, huyện K, tỉnh Cao Bằng; (Có mặt)

* Người làm chứng:

1/ Nông Ích V, sinh năm 1988; trú tại: xóm H, xã Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng;

2/ Nông Ích C, sinh năm 1993; trú tại: xóm R, xã Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng;

3/ Nông Văn T1, sinh năm 1982; trú tại: xóm N1, xã M, huyện L, tỉnh Cao Bằng;

(Những người làm chứng vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 00 ngày 07/4/2023, tổ công tác Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng chủ trì, phối hợp với Công an xã Đàm Thủy; Đồn Biên phòng Đàm Thủy làm nhiệm vụ tuần tra tại xóm B, xã Đ, huyện K, phát hiện bắt quả tang Nông Kim Q, sinh năm 1991, trú tại xóm B, xã Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Kiểm tra người, phát hiện tại túi quần phía trước bên phải 01 gói được gói bằng túi ni lông màu đen; tại túi quần phía trước bên trái 01 gói được gói bằng túi ni lông màu đen. Kiểm tra 02 gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục; tại túi quần phía sau bên phải số tiền 500.000 đồng; tay phải Q đang cầm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màn hình cảm ứng, số IMEI 1: 865947068261854, số IMEI 2: 865947068261847, điện thoại đã qua sử dụng. Số vật chứng và đồ vật liên quan đã được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nông Kim Q. Kết quả khám xét phát hiện thu giữ 01 bật lửa màu đỏ, 01 mảnh ni lông màu đen, 03 mảnh giấy (02 mảnh giấy bạc, 01 mảnh giấy bạc màu vàng) các mảnh giấy đã qua sử dụng, 01 dao lam nhãn hiệu CROMA lưỡi dao có bám dính chất màu trắng.

Hồi 16 giờ 40 phút ngày 07/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Kết quả cân số chất bột màu trắng thu giữ đối với Nông Kim Q có khối lượng 1,18 gam. Tại kết luận giám định số 188/KL - KTHS ngày 14/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Hai mẫu chất bột màu trắng bên trong 02 phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.

Tại Cơ quan điều tra, Nông Kim Q khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 07/4/2023, Q đi viếng đám ma tại xóm P, xã Đ, huyện K. Tại đây, Q sử dụng điện thoại di động nhắn tin cho Hứa Văn H1, sinh năm 1988, trú tại xóm C1, xã G, huyện K, tỉnh Cao Bằng hỏi mua ma tuy với số tiền 2.800.000 đồng, H1 đồng ý, Q một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11K1 - 068.XY đến nhà H1 để mua ma túy, nhưng H1 không bán. H1 hẹn Q đến cầu treo xã G giao dịch mua bán. Sau đó, Q gặp H1 tại cầu treo xã G. Q đưa 2.800.000 đồng cho H1, H1 đưa cho Q 02 gói ma túy được gói bằng túi ni lông màu đen. Sau khi mua được ma túy, Q về nhà sử dụng ma túy và bán ma túy cho 02 người. Số ma túy còn lại bị bắt quả tang.

Bị cáo Nông Kim Q có hành vi mua bán trái phép chất ma túy từ đầu tháng 3 năm 2023 cho đến ngày bị bắt. Những người mua ma túy nhắn tin, gọi điện thoại trước. Q nhất trí và hẹn người mua địa điểm, mua bán giao dịch. Q khai nhận đã được bán ma túy cho những người sau:

- Bán ma túy cho Nông Văn T1, sinh năm 1982, trú tại xóm V, xã M, huyện L, tỉnh Cao Bằng 02 lần, mỗi lần bán 500.000 đồng, ngày bán ma túy cho T1 không nhớ;

- Bán ma túy cho Nông Ích V, sinh năm 1988, trú tại xóm H, xã Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng 02 lần: lần thứ nhất 200.000 đồng, thời gian không nhớ ngày; lần thứ hai: 300.000 đồng, thời gian khoảng 13 giờ 30 ngày 07/4/2023;

- Bán ma túy cho Nông Ích C, sinh năm 1993, trú tại xóm R, xã Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng 03 lần 200.000 đồng, trong đó: 02 lần không nhớ thời gian; lần thứ ba khoảng 13 giờ 35 ngày 07/4/2023.

Ngoài ra, Q còn được bán ma túy cho những người khác, không biết tên và địa chỉ.

Lời khai của Nông Kim Q phù hợp lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, kết luận giám định, kết quả cân khối lượng Heroine và những vật chứng, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Ngày 24/7/2023, Nông Thị B1, sinh năm 1993, trú tại xóm A, xã N, huyện K, tỉnh Cao Bằng là em gái của Nông Kim Q, tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ - đen, số máy JA 31E0266065, số khung 3107EY073604, biển kiểm soát 11K1 - 068.XY là phương tiện phạm tội.

Bản cáo trạng số 71/CT-VKSTK ngày 21 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố bị cáo Nông Kim Q ra trước Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Khi công bố bản cáo trạng đại diện Viện kiểm sát đính chính: Lần thứ ba, khoảng 13 giờ 35 phút ngày 07/4/2023 bị cáo Q bán ma túy cho Nông Ích C được số tiền là 200.000 đồng, chứ không phải 300.000 đồng, như cáo trạng đã nêu.

Bị cáo Nông Kim Q thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của bị cáo. Đối với 01 (một) điện thoại di động hãn hiệu Oppo màu vàng đồng, màn hình cảm ứng bị cáo được sử dụng để trao đổi mua bán ma túy; bật lửa, các mảnh giấy bạc, mảnh túi ni lông và dao lam bị cáo sử dụng để chia và gói ma túy; số tiền 500.000 đồng, là tiền bị cáo bán ma túy; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 11K1-068.XY là xe bị cáo mượn của em gái (Nông Thị B1). Năm 2021 bị cáo đã bán lại chiếc xe cho em gái là Nông Thị B1 nhưng thỉnh thoảng bị cáo vẫn mượn của em gái để đi lại.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án – chị Nông Thị B1 khai: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 11K1-068.XY đứng tên chủ sở hữu là Nông Kim Q. Năm 2021, chị B1 đã mua lại chiếc xe này với bị cáo Nông Kim Q (có giấy tờ mua bán). Ngày 07/4/2023 bị cáo Q sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy, chị B1 không biết nên chị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho chị chiếc xe để phục vụ đi lại.

Kết thúc phần xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên nhận định bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức về tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình phạm tội, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Kim Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Q. Xử phạt bị cáo Nông Kim Q từ 07 (bảy) năm tù - 08 (tám) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy bắt quả tang và các vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm 01 bật lửa màu đỏ, 01 mảnh ni lông màu đen, 03 mảnh giấy bạc, 01 dao lam.

- Đề nghị tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu vàng đồng, màn hình cảm ứng, số IMEI 1: 865947068261854, số IMEI 2: 865947068261847.

- Đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng, là tiền bị cáo Q bán ma túy.

- Trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 11K1-068.XY cho chị Nông Thị B1.

- Truy thu số tiền 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng) đối với bị cáo Q do thu lợi bất chính từ hành vi mua bán ma túy có được sung vào Ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận, nhất trí với quan điểm xử lý của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trùng Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết hợp với các lời khai của những người làm chứng đã khai tại Cơ quan điều tra về cách thức mua bán ma túy, thời gian, địa điểm cũng như số lần mua bán ma túy đã thực hiện, đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với vật chứng đã thu được của bị cáo Q. Cụ thể: Hồi 14 giờ 00 ngày 07/4/2023, tại xóm B, xã Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng, Tổ công tác Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng chủ trì phối hợp với Công an xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh và Đồn Biên phòng Đàm Thủy phát hiện bắt quả tang Nông Kim Q, sinh năm 1991, trú tại xóm B, xã Đ, huyện K, tỉnh Cao Bằng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ 1,18 gam ma túy, loại Heroine. Mục đích Q mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời. Trước khi bị bắt, bị cáo Q đã bán ma túy 07 lần cho 03 người nghiện ma túy với tổng số tiền là 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng) và nhiều người khác không biết tên và địa chỉ.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được và biết rõ tác hại của ma túy, hiểu được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và hiểu được các quy định của Nhà nước về nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy nhưng thấy lợi nhuận cao từ bán ma túy nên đã bất chấp pháp luật để thực hiện. Việc làm của bị cáo đã tiếp tay cho tệ nạn ma túy gia tăng, làm giảm sút sức lao động, hủy hoại đến sức khỏe và trí tuệ của con người, khiến dư luận và nhân dân địa phương bất bình và là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nhiều loại tội phạm khác; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; hành vi phạm tội của bị cáo còn thể hiện sự coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Q bán ma túy nhiều lần, mỗi lần bán đều cấu thành tội phạm độc lập nên bị coi là phạm tội 02 lần trở lên, là tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mới tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Do vậy, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ để kết tội bị cáo Nông Kim Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nông Kim Q không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên không được coi là có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Q là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên bị cáo được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Các nhận định khác: Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo Nông Kim Q khai mua với Hứa Văn H1, sinh năm 1988, trú tại C1, xã G, huyện K, tỉnh Cao Bằng. Quá trình điều tra không đủ căn cứ chứng minh hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Hứa Văn H1. Do đó, Cơ quan điều tra Công an huyện Trùng Khánh không có căn cứ đề nghị xử lý Hứa Văn H1 trong vụ án này.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy bắt quả tang và các vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm 01 bật lửa màu đỏ, 01 mảnh ni lông màu đen, 03 mảnh giấy bạc, 01 dao lam;

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu vàng đồng, màn hình cảm ứng, số IMEI 1: 865947068261854, số IMEI 2: 865947068261847;

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng, là tiền bị cáo Q bán ma túy.

- Truy thu số tiền 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng) đối với bị cáo Q do thu lợi bất chính từ hành vi mua bán ma túy sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 11K1-068.XY cho chị Nông Thị B1.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và quan điểm xử lý vật chứng là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hoàn cảnh kinh tế của bị cáo, nên cần được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Nông Kim Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Kim Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nông Kim Q 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 07/4/2023;

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi “Vật chứng thu giữ đối với Nông Kim Q vụ Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 07/4/2023 tại: xóm B – xã Đ – huyện K – Cao Bằng”; 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi vật: “Vật chứng (bật lửa, mảnh giấy bạc, mảnh túi ni lông, dao lam) phát hiện, thu giữ khi khám xét chỗ ở của Nông Kim Q ngày 07/4/2023”.

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi: “Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, điện thoại màn hình cảm ứng, màu vàng đồng số IMEI 1: 865947068261854, số IMEI 2: 865947068261847, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Nông Kim Q ngày 07/4/2023”;

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 500.000 đồng, chứa trong 01 phong bì thư, mặt trước ghi: “Bì thư số 47 số tiền 500.000 đồng, tạm giữ khi bắt quả tang Nông Kim Q ngày 07/4/2023”.

- Truy thu số tiền 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng) đối với bị cáo Nông Kim Q do thu lợi bất chính từ hành vi mua bán ma túy để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

- Trả lại 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ đen, số máy JA31E0266065, số khung 3107EY073604, biển kiểm soát 11K1-068.xy cho chị Nông Thị B1, sinh năm 1993. Trú tại: xóm A, xã N, huyện K, tỉnh Cao Bằng;

Xác nhận số vật chứng trên đã chuyển sang cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trùng Khánh tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/8/2023.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nông Kim Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Bị cáo Nông Kim Q có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nông Thị B1 có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ