- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Viết H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2023/HS-ST Ngày 16-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Xuân Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thu Hà và ông Đào Mạnh Nam
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nhật Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Tráng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã X, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023, đối với:
Bị cáo Nguyễn Viết H, sinh ngày 28/8/1966 tại huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn:07/10; Con ông Nguyễn Viết Th (đã chết) và bà Nguyễn Thị Nh (đã chết); Có vợ Nguyễn Thị L (sinh năm 1971); Bị cáo có 03 con, (con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2004). Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tháng 8/1985 đến tháng 4/1988 tham gia nghĩa vụ quân sự; Bản án số 41/HSST ngày 26/5/2011 Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 01 năm cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” và phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, ngày 03/12/2015 H chấp hành xong án cải tạo không giam giữ, ngày 15/3/2012 chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 21/02/2023 đến ngày 24/02/2023 chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Kiến Xương (Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa).
- Người chứng kiến:
+ Anh Nguyễn Dương - sinh năm 1982 (Vắng mặt)
+ Ông Nguyễn Đức Đ – sinh năm 1960 (Vắng mặt)
Đều có địa chỉ: Thôn Đ1, xã TTr, huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên khoảng 18 giờ ngày 20/02/2023, Nguyễn Viết H đi bộ từ nhà thuộc thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thái Bình ra khu vực đường ngã 5 thôn B và đi nhờ xe mô tô của người đi đường không quen biết đến khu vực thôn Đ1, xã TTr, huyện T rồi xuống xe đi bộ, mục đích để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, H đã gặp và mua được của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ 05 gói ma túy, loại Heroin với giá 250.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H bỏ ma túy vào túi áo khoác bên trái, phía dưới đằng trước áo đang mặc rồi đi bộ để tìm xe đi nhờ về nhà thì bị tổ công tác tuần tra của Bộ đội biên phòng cửa khẩu cảng D phối hợp với Công an xã TTr đang tuần tra, phát hiện có biểu hiện nghi vấn, đã tiến hành kiểm tra và phát hiện hành vi phạm tội của H. Trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Đức Đ và anh Nguyễn Dương M, H đã tự giác lấy trong túi áo khoác bên trái, phía dưới đằng trước áo đang mặc giao nộp cho tổ công tác 05 gói được gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, mở ra bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục là ma túy, loại Heroine Huy khai vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác của Bộ đội biên phòng cửa khẩu cảng D đã niêm phong vật chứng, đưa H, vật chứng và mời người chứng kiến về Trụ sở Ủy ban nhân dân xã TTr lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thái Thụy tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Viết H nhưng không phát hiện thu giữ gì thêm liên quan đến ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 229/KL-KTHS ngày 22/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,2835gam. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 55/CT-VKSTT ngày 04/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Nguyễn Viết H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, phạt bổ sung 5.000.000 đến 7.000.000 đồng sung vào Ngân sách nhà nước. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,2566gam và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 229/KL-KTHS của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Bộ đội biên phòng cửa khẩu cảng D, Công an xã TTr, Cơ quan điều tra Công an huyện Thái Thụy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Viết H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Bộ đội biên phòng cửa khẩu cảng D lập ngày 20/02/2023 (bút lục số 49); Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến là ông Nguyễn Đức Đ và anh Nguyễn Dương M (bút lục số 103-110); Bản kết luận giám định số 229/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (bút lục số 55) cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 20/02/2023, tại khu vực đường trục thôn Đ1, xã TTr, huyện T, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Viết H đã có hành vi tàng trữ trái phép tại túi áo khoác bên trái phía dưới đằng trước của H 05 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,2835gam, mục đích sử dụng cho bản thân, bị tổ công tác Bộ đội biên phòng cửa khẩu cảng D phối hợp với Công an xã TTr bắt quả tang. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Viết H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy - Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của nhà nước, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, đi ngược lại với cuộc đấu tranh bài trừ tệ nạn ma túy của nhà nước. Ma túy hiện nay đã trở thành vấn nạn nhức nhối cho toàn xã hội, bản thân người sử dụng sẽ bị hủy hoại về sức khỏe, tinh thần bị rối loạn, giảm khả năng lao động, học tập, nhân cách bị tha hóa. Tệ nạn ma túy còn là mầm mống phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được tác hại rất lớn của ma túy, nhận thức được việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp mua về và cất giữ trong người để sử dụng cho bản thân với lỗi cố ý trực tiếp.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những phân tích, nhận định về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử, hiểu được sự trừng phạt của pháp luật nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà còn tiếp tục phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó, cần phải xử lý nghiêm minh, xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo và góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội. Cần áp dụng hình phạt bổ sung, phạt bị cáo 5.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
[6] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: 0,2566gam Heroine cùng toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 229/KL-KTHS của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về nguồn gốc số ma túy: H khai là mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xử lý.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật và có quyền kháng cáo theo quy định tại điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Viết H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết H 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 21/02/2023, phạt bổ sung 5.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,2566gam Heroine cùng toàn bộ bao gói thu giữ của Nguyễn Viết H trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 229/KL-KTHS của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình
.
(Các tài sản đồ vật trên có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy ngày 05/5/2023).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Viết H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo Nguyễn Viết Huy có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 16/6/2023. Nơi nhận:
| - Người tham gia tố tụng; - TAND tỉnh Thái Bình; - VKSND huyện Thái Thụy; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS huyện Thái Thụy; - Công an huyện Thái Thụy; - Công an tỉnh Thái Bình (PC10); - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình; - UBND xã X; - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẤM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Xuân Quỳnh |