vanban.org

Bản án 72/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An Tuyên án 13/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt: Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điề 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Lương Thái Q 06 (Sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 14 tháng 4 năm 2023.

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 3,9 gam Heroine, mảnh bao ni lông màu xanh và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu thu giữ của Lương Thái Q.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt: Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điề 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Lương Thái Q 06 (Sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 14 tháng 4 năm 2023.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ PHONG
TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 72/2023/HS-ST
Ngày 13 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Diên Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mong Thái Dương;

2. Ông Lang Văn Hải;

- Thư ký phiên tòa: Ông Lang Thanh Như, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Lô Thị Giang, Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo: Lương Thái Q, Tên gọi khác: C, sinh năm 1979, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản Ch, xã Ch, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): Không học; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Thái Ng (đã chết) và bà Vi Thị L (đã chết); Vợ: Lang Thị Á; Sinh năm: 1977 - đã ly hôn, Trước đây sống chung như vợ chồng gồm: Lô Thị Ng, Hà Thị Nh và Sầm Thị H; Con: có 03 người; Lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2012; Tiền sự: Không; Tiền án: 02 tiền án, Năm 2008, Tòa án nhân dân huyện Quế Phong xử phạt 03 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Ngày 22/01/2011 thì chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương; Năm 2012, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu xử phạt 14 năm 06 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Ngày 27/9/2022 thì chấp hành xong hình phạt tù và trở về sinh sống tại địa phương. Nhân thân: Năm 2003, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 6 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 01/9/2007 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2023 đến nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Thái Q - chức danh: Trợ giúp viên trợ giúp pháp lý chi nhánh số 2 - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh Nghệ An, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lương Thị Th, sinh năm 1989; Trú tại: Bản Ch, xã Ch, huyện Q, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Trịnh Viết Ph, sinh năm 1986

Trú tại: Khối Đ, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 14 tháng 4 năm 2023, Lương Thái Q đi xe máy từ nhà ở bản Chào Mờ, xã Châu Bính, huyện Quỳ Châu lên huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An để mua ma túy về sử dụng. Đến huyện Quế Phong, Lương Thái Q gọi điện thoại cho một người đàn ông không quen biết, hỏi "Có hàng nữa không (ý nói là Heroine)", người này trả lời: "Có" và hướng dẫn cho Quyền đi vào khu vực gần cầu Thủy điện Nhãn Hạc thuộc xã Mường Nọc, huyện Quế Phong. Lương Thái Q đi theo hướng dẫn của người đàn ông đến địa điểm đã hẹn thì gặp một người đàn ông. Lúc đó Lương Thái Q đưa cho người này số tiền 270.000đ (Hai trăm bảy mươi nghìn) đồng, người đàn ông cầm tiền và đưa lại cho Quyền 1 gói ma túy Heroine bọc trong bao nilông màu xanh. Nhận gói ma túy với người đàn ông xong Quyền cất giấu trong miệng rồi điều khiển xe máy quay về. Khi về đến khu vực xóm Trung Sơn, xã Mường Nọc, huyện Quế Phong thì bị tổ công tác đội Cảnh sát giao thông Công an huyện Quế Phong phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói chất bột màu trắng mà Lương Thái Q cất giấu trong miệng và 01 xe máy nhãn hiệu: ESPERO; biển số: 37GA- 021.50. Tại trụ sở Cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Phong, Lương Thái Q đã khai nhận số chất bột màu trắng bị thu giữ là Heroine do Quyền mua với một người đàn ông không quen biết nhằm mục đích để sử dụng.

Kết luận giám định số 446/KL- KTHS(Đ2-MT) ngày 18 tháng 4 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lương Thái Q gửi tới giám định là ma túy; loại Heroine (Heroin). Số chất bột màu trắng thu giữ của Lương Thái Q có khối lượng là 4,40g (Bốn phẩy bốn mươi) gam”.

Về vật chứng và tài sản của vụ án thu giữ:

- Đối với 4,40 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã lấy 0,5 gam gửi đi giám định và đã sử dụng hết trong quá trình giám định. Vật chứng còn lại gồm: 3,9 gam Heroine, mảnh bao ni lông màu xanh và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được niêm phong lại theo đúng quy định, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Phong.

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Poco, phiên bản Miui, màu đen, số seri: 220333QPG, bên trong có sim số: 0812.665.337.

- Đối với chiếc xe máy, nhãn hiệu: ESPERO; số loại 50C3; màu sơn: đen, bạc; biển số: 37GA- 021.50; số máy VDEJQ139FMB3431619; số khung: RPEVCB4PEJA431619. Quá trình xác minh chiếc xe trên là của chị Lương Thị Th - Sinh năm 1989 - Trú tại bản Chiềng Ban, xã Châu Thắng, huyện Quỳ Châu (là em họ của Q), việc Lương Thái Q dùng chiếc xe máy đó đi mua ma túy chị Thảo không biết. Hiện nay chiếc xe máy đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong.

Tại Bản cáo trạng số 71/CT-VKS-QP ngày 12/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An truy tố Lương Thái Q về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Lương Thái Q giữ nguyên lời khai như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát huyện Quế Phong trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo đồng thời đề nghị.

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Bị cáo Lương Thái Q từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù; Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu tiêu huỷ 3,9 gam Heroine, mảnh bao ni lông màu xanh và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu của Lương Thái Q..

- Tịch thu đấu giá nộp Ngân Sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Poco, phiên bản Miui, màu đen, số seri: 220333QPG, bên trong có sim số: 0812.665.337.

- Trả lại chiếc xe máy, nhãn hiệu: ESPERO; số loại 50C3; màu sơn: đen, bạc; biển số: 37GA- 021.50; số máy VDEJQ139FMB3431619; số khung: RPEVCB4PEJA431619 cho chủ sở hữu là chi Lương Thị Thảo - Sinh năm 1989 - Trú tại bản Chiềng Ban, xã Châu Thắng, huyện Quỳ Châu.

Đối với người đàn ông có hành vi bán trái phép ma túy cho Lương Thái Q (theo lời khai của Quyền) do không xác định được lai lịch cụ thể, nên chưa có căn cứ để điều tra xử lý.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Do bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ nhận thức pháp luật hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt và miễn nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại lời nói sau cùng, Lương Thái Q đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quế Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: vào hồi 8 giờ, ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại khu vực xóm Trung Sơn, xã Mường Nọc, huyện Quế Phong bị cáo đang có hành vi cất giữ trữ trái phép 4,40g (Bốn phẩy bốn mươi) gam ma túy Heroine với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Ngoài ra, ma túy là một loại chất độc dược gây ra tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng và cũng là mầm mống lan truyền các căn bệnh xã hội như HIV, AIDS, .... vv. Ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến những loại tội phạm khác.

Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được tác hại của ma túy, biết rằng việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị trừng trị nhưng bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm về ma túy diễn ra ngày càng nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi, để lại những hậu quả nặng nề, gây nhiều bức xúc cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng; bị cáo có tình tiết tăng nặng định khung trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự: Không. Nhưng bị cáo có nhân thân: Năm 2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 6 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Ngày 01/9/2007 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bi ̣ cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát và người bào chữa đề nghị áp dụng đối với bị cáo là chưa tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, cho nên đề nghị của vị đại diện VKS và người bào chữa là chưa phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản đáng giá. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về vật chứng:

- Ma tuý là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

- Tịch thu đấu giá nộp Ngân Sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Poco, phiên bản Miui, màu đen, số seri: 220333QPG, bên trong có sim số: 0812.665.337.

- Trả lại chiếc xe máy, nhãn hiệu: ESPERO; số loại 50C3; màu sơn: đen, bạc; biển số: 37GA- 021.50; số máy VDEJQ139FMB3431619; số khung: RPEVCB4PEJA431619 cho chủ sở hữu là chi Lương Thị Thảo, sinh năm 1989; Trú tại bản Chiềng Ban, xã Châu Thắng, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An do chị Thảo không biết việc bị cáo mượn chiến xe dùng để đi mua ma tuý về sử dụng.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điề 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Lương Thái Q 06 (Sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 14 tháng 4 năm 2023. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ: 3,9 gam Heroine, mảnh bao ni lông màu xanh và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu thu giữ của Lương Thái Q.

- Tịch thu đấu giá nộp Ngân Sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Poco, phiên bản Miui, màu đen, số seri: 220333QPG, bên trong có sim số: 0812.665.337.

- Trả lại chiếc xe máy, nhãn hiệu: ESPERO; số loại 50C3; màu sơn: đen, bạc; biển số: 37GA- 021.50; số máy VDEJQ139FMB3431619; số khung: RPEVCB4PEJA431619 cho chủ sở hữu là chi Lương Thị Thảo - Sinh năm 1989 - Trú tại bản Chiềng Ban, xã Châu Thắng, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Quế Phong và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong ngày 15/6/2023).

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lương Thái Q phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Chị Lương Thị Thảo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lê.̣

Cỡ chữ