- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ TPC ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy».
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X THÀNH PHỐ HÀ NỘI -------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2023/HS - ST Ngày: 14/12/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Ông Nguyễn Văn Chương
Các Hội thẩm nhân dân :
1. Ông Nguyễn Lương Đức
2. Bà Trần Thị Thảo Yến
Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Dung - Thẩm tra viên Tòa
án nhân dân huyện X, TP Hà Nội
Đại diện VKSND huyện X - TP Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 72/2023/TLST - HS ngày 20/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXXST - HS ngày 01/12/2023 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN T, sinh năm 1963; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn P, xã D, huyện X, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 02/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M (đã chết), con bà Nguyễn Thị T1 (đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị H và 01 con sinh năm 1991; Tiền án: 01 tiền án: Ngày 19/10/2020, Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội xử phạt 07 tháng tù về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2022; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/05/1981, UBND tỉnh Hà Sơn Bình quyết định bắt tập trung cải tạo, thời hạn 03 năm về tội trộm cắp tài sản. Ngày 31/10/2013, Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội xử phạt 45 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/4/2016, đã xóa án tích. Danh, chỉ bản số 213 lập ngày 20/09/2023 tại Công an huyện X, thành phố Hà Nội; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/09/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an thành phố Hà Nội (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/9/2023, Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện X tiến hành tuần tra nắm tính hình trên địa bàn xã D, huyện X, TP Hà Nội. Khi tổ công tác đến khu vực đê sông Nhuệ thuộc địa phận thôn G, xã D, huyện X đã phát hiện đối tượng nam giới có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên tiến hành kiểm tra. Tại chỗ, đối tượng khai tên là Nguyễn Văn T (Sinh năm 1963; HKTT: thôn P, xã D, huyện X, thành phố Hà Nội). Qua kiểm tra đã phát hiện trong lòng bàn tay trái của T có 01 gói giấy màu trắng kích thước khoảng 1x2,5cm, bên trong chứa chất bột màu trắng. T tự khai gói giấy màu trắng trên là ma túy vừa mua được của một người nam giới không quen biết với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tiến hành niêm phong tang vật và đưa đối tượng về trụ sở Công an huyện X để điều tra, làm rõ theo quy định của pháp luật.
Cùng ngày 11/09/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện X đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với chất bột màu trắng bên trong gói giấy thu giữ của Nguyễn Văn T. Tại Bản kết luận giám định số 6147/KL-KTHS ngày 18/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma tuý loại Heroine, khối lượng: 0,100 gam”.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 11/09/2023, T đi bộ từ nhà đến khu vực thôn Đại Nghiệp, xã D, huyện X để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, T gặp và mua của một người nam giới đang đứng ở đường trông giống người nghiện 01 gói Heroine được bọc trong gói giấy màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau đó, T cầm gói ma túy trên ở tay trái đi về nhà. Khi T đang đi bộ ở đường đê sông Nhuệ thuộc thôn G, xã D thì bị tổ công tác Công an huyện X phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng là 01 gói ma túy bên ngoài bọc giấy màu trắng.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Văn T vào ngày 11/09/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện X đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được đối tượng liên quan, ngoài lời khai của T ra không còn tài liệu nào khác để chứng minh nên không có căn cứ để làm rõ.
Bản cáo trạng số 70/CT - VKS ngày 17/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện X đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
* Bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện X đã truy tố đối với bị cáo. Khi được nói lời sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt vì hoàn cảnh gia đình bị cáo có nhiều khó khăn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X sau khi phân tích về nội dung vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử cho tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện X, thành phố Hà Nội:
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện X, thành phố Hà Nội lập ngày 11/09/2023, vật chứng thu giữ khi bắt quả tang, bản Kết luận giám định của cơ quan giám định có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 11/9/2023, tại khu vực đường đê sông Nhuệ thuộc địa phận thôn G, xã D, huyện X, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy loại Heroine, khối lượng 0,100 gam để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện X phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của Nguyễn Văn T đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện X truy tố bị cáo ra trước Tòa án để xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện huỷ hoại sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức xã hội và là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo. Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo đảm trật tự trị an xã hội cần phải nghiêm trị, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung cho mọi người.
Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích, 01 tiền án đã xóa án tích và 01 tiền sự đã hết thời hiệu bị coi là xử lý hành chính.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội cố ý khi chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự «Tái phạm» quy định tại Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận tội và thể hiện sự ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung đối bị cáo:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: «Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản».
Xét bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý các vật chứng đã thu giữ trong vụ án: Đối với khối lượng ma túy Heroine thu giữ của bị cáo là chất nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Về những vấn đề khác trong vụ án: Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, do Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được kháng cáo bản án theo Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội «Tàng trữ trái phép chất ma túy».
2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 24 (hai mƣơi tƣ) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày 11/09/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc phong bì niêm phong được dán kín các mép, bên trên các mép có chữ ký của giám định viên, cán bộ niêm phong và Nguyễn Văn T. Mặt trước phong bì có hình dấu vuông ghi Công an TP Hà Nội, tên đối tượng: Nguyễn Văn T, sinh năm 1963, HKTT: thôn P, xã D, huyện X, TP Hà Nội. Ngày niêm phong 11/9/2023, (kèm theo bản kết luận giám định số 6147/KL - KTHS ngày 18/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội). Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện X, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/11/2023.
4. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân H. X, TP Hà Nội; - Công an huyện X, TP Hà Nội; - Cơ quan Thi hành án hình sự H.X, TP Hà Nội; - Chi cục Thi hành án dân sự H. X, TP Nội; - Bị cáo. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Chương |