vanban.org

Bản án 72/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Tuyên án 29/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Xử phạt Trần Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29 tháng 8 năm 2023). Giao Trần Văn T cho UBND thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? 1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2023/HS-ST
Ngày: 29 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Việt Hùng.

Ông Phạm Văn Lịch.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đính - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2023/TLST-HS, ngày 09 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1999; nơi sinh và nơi cư trú: Tổ dân phố số 14, thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Trần Văn C, sinh năm 1958 và bà Vũ Thị K, sinh năm 1962; anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là thứ sáu; vợ, con chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 27/4/2023 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1998; địa chỉ: Xóm 16, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Lê Thị T, sinh năm 1974; địa chỉ: Xóm 16, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình (là mẹ đẻ anh T). Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Phạm Trung H, sinh năm 1996. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 44 phút, ngày 15/3/2023, Trần Văn T có giấy phép lái xe hạng A1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18B1 - 963.12 dung tích xi lanh 110 cm3 di chuyển trên đường theo hướng từ tổ dân phố số 22 đi tổ dân phố số 21, thị trấn T, huyện H. Khi đến gần ngã tư chợ C thuộc tổ dân phố số 21, thị trấn T, huyện H do đi lấn sang phần đường dành cho phương tiện đi ngược chiều nên đã va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 30K6 – 8743 do anh Đỗ Văn T, sinh năm 1998 ở xóm 16, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình điều khiển đi ngược chiều, phía sau chở anh Vũ Văn D, sinh năm 1990 ở xóm 8, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Hậu quả: Anh Đỗ Văn T bị thương ở vùng đầu phải đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định, đến ngày 20/3/2023 thì tử vong; Trần Văn T bị thương điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Hải Hậu từ ngày 15/3/2023 đến ngày 20/3/2023; xe mô tô biển kiểm soát 18B1 - 963.12 và mô tô biển kiểm soát 30K6 - 8743 bị hư hỏng; anh Vũ Văn D không bị thương tích gì.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 504/KL-KTHS ngày 30/03/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Nạn nhân Đỗ Văn T chết do chấn thương sọ não, chảy máu nội sọ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐG ngày 23/06/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hải Hậu kết luận: Xe mô tô, nhãn hiệu Wave sơn màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 18B1 - 963.12 bị hư hỏng trị giá 4.900.000 đồng; Xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead sơn màu bạc đen, biển kiểm soát 30K6 - 8743 bị hư hỏng trị giá 4.700.000 đồng.

Cáo trạng số 76/CT-VKSHH, ngày 08/8/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố Trần Văn T về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo nhận lỗi và xin được giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để bị cáo có cơ hội chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng. Quá trình điều tra bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T khai nhận về hành vi đã thực hiện đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông và các kết luận giám định, định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 44 phút, ngày 15/3/2023, Trần Văn T có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18B1 - 963.12 trên đường liên tổ dân phố theo hướng từ tổ dân phố số 22 đi tổ dân phố số 21, thị trấn T, huyện H. Khi đến gần ngã tư chợ Chiều thuộc tổ dân phố số 21, thị trấn Thịnh Long, Thể điều khiển xe đi lấn sang phần đường bên trái theo chiều đi của mình nên đã xô vào xe mô tô biển kiểm soát 30K6 - 8743 do anh Đỗ Văn T điều khiển, phía sau chở anh Vũ Văn D đi ngược chiều khiến anh Đỗ Văn T bị ngã đập đầu xuống đường được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định, đến ngày 20/3/2023 thì tử vong do chấn thương sọ não, chảy máu nội sọ. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Bị cáo là người có thể chất tinh thần bình thường, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) quy định: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.

Điều 260. Tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000đ đồng, phạt cải không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;”

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải xử lý nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn, T độ ăn năn hối lỗi; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; được người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; hoàn cảnh gia đình bị cáo còn khó khăn. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về áp dụng hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhưng xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú cụ thể rõ ràng; có ý thức sửa chữa lỗi lầm, có khả năng tự cải tạo được chính quyền địa phương xác nhận nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục theo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 130.000.000 đồng. Đến nay đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm. Do đó về trách nhiệm dân sự không xem xét.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 18B1 - 963.12 là tài sản hợp pháp của Trần Văn T, trong quá trình truy tố Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã trả lại chiếc xe trên cho bị cáo là phù hợp nên không xem xét điều chỉnh. Xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead sơn màu Bạc đen, biển kiểm soát 30K6 – 8743 là tài sản của anh Vũ Văn D, sinh năm 1990 ở xóm 8, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Tuy nhiên, sau tai nạn anh D không bị thương tích nhưng không đến làm việc, Cơ quan điều tra đã triệu tập, xác minh nhưng anh D không có mặt ở địa phương nên Cơ quan điều tra tách ra xử lý sau là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

1.1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1.2. Xử phạt Trần Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29 tháng 8 năm 2023).

Giao Trần Văn T cho UBND thị trấn T, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đối với bị cáo Trần Văn T theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 71/LCCT-TA ngày 09 tháng 8 năm 2023.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ