vanban.org

Bản án 72/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 14/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt Bị cáo: 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 11/12/2022). Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 72/2023/HS-ST
Ngày: 14/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lù Văn Lả

Ông Cà Văn Danh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Toà án nhân

dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2023/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 đối với Bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1988, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản L, xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Con ông: Lò Văn T – Sinh năm 1966 và con bà: Quàng Thị H – Sinh năm 1968; Vợ thứ nhất: Quàng Thị T – Sinh năm 1989 (Đã ly hôn năm 2011); Vợ thứ hai: Cà Thị T – Sinh năm 1989; Con: 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 01/02/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 18 tháng, ngày 02/7/2019 chấp hành xong và được coi chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Chưa bị Tòa án nào xét xử.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/12/2022 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

* Người có nghĩa vụ liên quan: Anh Cà Văn A – Sinh năm 1985 – Địa chỉ: Bản P, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 11/12/2022, Lò Văn T đi bộ từ nhà ở bản L, xã S, huyện Đ đến khu vực bờ mương thuộc xã T, huyện Đ mục đích tìm mua Heroine để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, T gặp Cà Văn A sinh năm 1985, trú tại bản P, xã T, huyện Đ là anh vợ của T. Qua trao đổi, T mua được của A 01 gói được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng, bên trong có Heroine và 01 viên Methamphetamine với giá 100.000 đồng. Sau đó, T mang về nhà rồi vào phòng ngủ dùng tay chia số Heroine thành 03 gói được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng, T dùng mảnh nilon màu trắng gói viên Methamphetamine và cầm số ma túy ở tay phải. Đến 18 giờ 50 phút cùng ngày khi T đang đứng ở cổng nhà mình thì bị tổ công tác Công an huyện Điện Biên kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ trong lòng bàn tay phải của T 03 gói chất bột màu trắng nghi là Heroine có khối lượng 0,37 gam và 01 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp có khối lượng 0,09 gam. Tổng khối lượng hai chất ma túy thu giữ của Lò Văn T là 0,46 gam.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và niêm phong vật chứng ngày 11/12/2022 đã xác định như sau: Các cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng là 0,37 gam gửi toàn bộ giám định, ký hiệu M1; 01 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp có khối lượng 0,09 gam gửi toàn bộ giám định, ký hiệu M2.

Tại bản kết luận giám định số 25/KL-KTHS ngày 19/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu các cục bột màu trắng ký hiệu M1 thu giữ của Lò Văn T gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; Mẫu viên nén màu hồng ký hiệu M2 thu giữ của Lò Văn T gửi giám định là chất ma túy: loại Methamphetamine. Kèm theo kết luận giám định hoàn lại đối tượng giám định M1: 0,24 gam; M2: 0,04 gam và bì niêm phong cũ có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKSĐB ngày 11/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo: Từ 16 tháng đến 19 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy gồm: 0,24 gam Heroine ký hiệu M1 và 0,04 gam Methamphetamine ký hiệu M2 là vật chứng còn lại của vụ án.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên.

Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo Lò Văn T xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của Bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 18 giờ 50 phút, ngày 11/12/2022 tại cổng nhà bị cáo Lò Văn T ở bản L, xã S, huyện Đ, Lò Văn T bị tổ công tác Công an huyện Điện Biên phát hiện, bắt quả tang vì đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,37 gam Heroine và 0,09 gam Methamphetamine, tổng khối lượng hai chất ma túy là 0,46 gam, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do T khai mua của anh vợ là Cà Văn A, sinh năm 1985, trú tại bản P, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên với số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

i) Có hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.”

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã S, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Bị cáo được gia đình nuôi ăn học hết lớp 9/12 thì nghỉ ở nhà làm ruộng cùng gia đình. Đến năm 2005 đăng ký kết hôn với chị Quàng Thị T và có với nhau 01 người con sinh năm 2006. Đến năm 2011 ly hôn chị T. Năm 2012 kết hôn với chị Cà Thị T và có với nhau 02 người con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2020. Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2016 cho đến nay.

Ngày 01/02/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 18 tháng, ngày 02/7/2019 chấp hành xong và được coi chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính Bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, nghề nghiệp của bị cáo là làm ruộng không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và thuộc hộ nghèo nên không có khả năng thi hành. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.

Đề nghị của Kiểm sát viên: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với Bị cáo từ 16 tháng đến 19 tháng tù, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Số Heroine bị thu giữ là 0,37 gam, đã gửi giám định hoàn lại 0,24 gam và số Methamphetamine bị thu giữ là 0,09 gam, đã gửi giám định hoàn lại 0,04 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Các vấn đề khác:

Tại phiên tòa, người có nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do, xét thấy anh A đã có lời khai tai cơ quan điều tra nên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292/BLTTHS quyết định vẫn tiến hành xét xử.

Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ do Bị cáo mua của Cà Văn A. Qua điều tra A khai không bán ma túy cho T. Việc trao đổi mua bán ma túy chỉ có một mình Bị cáo T biết. Do vậy, không đủ căn cứ kết luận Cà Văn A bán ma túy cho T nên Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đặt vấn đề xử lý, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Bị cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn tòa bộ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt Bị cáo: 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 11/12/2022).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 0,24 gam Heroine ký hiệu M1 và 0,04 gam Methamphetamine ký hiệu M2 là vật chứng còn lại của vụ án.

(Vật chứng của vụ án đã được Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/01/2023).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ