vanban.org

Bản án 72/2023/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc D ; sửa bản án sơ thẩm số

203/2022/HSST ngày 12/12/2022 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh 51 Bộ luật Hình sự;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Dũng - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc D ; sửa bản án sơ thẩm số
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 290 Bộ luật Hình sự; Điều 3 Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC Nghị quyết hướng dẫn áp d…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2023/HS-PT
Ngày: 28 - 3 -2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Viết Hùng

Các Thẩm phán:

1. Ông Đặng Hồng Sơn

2. Ông Lê Công Huân

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mộng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên

tòa: Ông Trần Hải Nam- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ đối với vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số:

75/HSPT ngày 27 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc D do có

kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 203/2022/HSST ngày

12/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú Thành phố Hồ Chí Minh.

Các bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Ngọc D , sinh năm 1993 tại tỉnh Bình Thuận; nơi tH trú: Thôn T,

xã H, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: 239 Lò Siêu, PH 11, Quận 11, Thành

phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 9/12, dân tộc:

Kinh; giới tính: Nam, tôn giáo Không: quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn

Ngọc Th , sinh năm 1972 và bà Cao Thị B , sinh năm 1973; tiền án: Không, tiền

sự: Không. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/6/2022

Ngoài ra, còn các bị cáo khác trong vụ án không kháng cáo, không bị

kháng nghị nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Thái Văn H và Trần Tấn H là bạn quen biết nhau từ trước. Khoảng 12 giờ

20 phút ngày 08/6/2022, Hậu điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX

biển số 59S3- 127.81 chờ H lưu thông đến ngã tư đường Hòa Bình - Lũy Bán

Bích thì Hậu phát hiện chị Huỳnh Khánh V đang điều khiển xe gắn máy hiệu

Honda Lead, biển số 17N1- 3184 chở chị Hà Thị H đi cùng chiều, hay tay chị H

đang sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax nên Hậu rủ H cướp giật, H đồng ý. Khi đến trước số 177B đường Lũy Bán Bích, pH Hiệp Tân, quận Tân Phú, Hậu điều khiển xe gắn máy áp sát bên trái chị H để H ngồi sau dùng tay phải giật được điện thoại di động đồng thời H ngồi sau dùng chân đạp vào xe gắn máy của chị V để nhanh chóng tẩu thoát làm chị V và chị H bị ngã xuống đường, gây thương tích rồi Hậu tăng ga bỏ chạy. Sau đó, cả hai đến cửa hàng điện thoại di động Hi-Michael số 239C Lò Siêu, pH 11, Quận 11 do anh Nguyễn Ngọc H làm chủ, Hậu trực tiếp gặp Nguyễn Ngọc D là nhân viên sửa chữa điện thoại hỏi “có mua điện thoại Iphone mất Icloud không", lúc này D biết diện thoại do phạm tội mà có nên đồng ý mua với giá là 13.000.000 đồng thì Hậu đồng ý, Hậu và H mỗi người chia nhau số tiền 6.500.000 đồng và cả hai đã tiêu xài hết. Sau khi mua điện thoại di động trên, Dũng đã năm lần dò tìm mật khẩu của điện thoại, đến lần thứ năm Dũng bấm sáu lần số 0 thì mở được mật khẩu. Sau đó, D vào phần ghi chú của điện thoại thấy có mật khẩu Icloud và mật khẩu ứng dụng Internet banking ngân hàng VP Bank số tài khoản 228890251 của chị H nên đã tắt ứng dụng tìm Iphone để chị H không định vị được điện thoại. Sau đó, D xóa tài khoản Icloud, đăng nhập vào ứng dụng Internet banking trên để mua hai thẻ cào điện thoại mỗi thẻ mệnh giá 500.000 đồng rồi chạy lại dữ liệu của điện thoại di động hiệu Iphone I3 Promax để xóa hết dữ liệu và thông tin trong điện thoại. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 08/6/2022 D nhắn tin cho anh Nguyễn Ngọc H chào bán điện thoại di động trên, qua kiểm tra anh Hạnh thấy điện thoại không có Icloud nên anh H nghĩ là điện thoại do chính chủ bán lại cho D và đồng ý mua với giá 23.000.000 đồng. Đến ngày 09/6/2022 anh Hạnh bán lại điện thoại di động trên cho một người tên Lai tại cửa hàng điện thoại di động trên đường Quách Đ , xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh với giá 24.000.000 đồng. Sau khi sự việc xảy ra Dũng đã liên hệ mua lại điện thoại để giao nộp cho Cơ quan điều tra. Sau khi bị cướp giật điện thoại, chị H đã đến Công an pH trình báo. Qua truy xét, Công an đã bắt được Thái Văn H va Trần Tấn H , Nguyễn Ngọc D ,

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Ngọc D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm

tội như trên.

Theo kết luận định giả tài sản số 1071/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày

08/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban quận Tân Phú thời điểm định giá ngày 08/6/2022 kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 ProMax, màu xám trị giá 25.500.000 đồng

Bản án hình sự sơ thẩm số 203/2022/HSST ngày 12/12/2022 của Tòa án

nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

- Căn cứ khoản 1 Điều 323; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51

Bộ luật Hình sự

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 290; Điều 38 ; điểm b, s khoản 1 và khoản

2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Ngọc D 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người

khác phạm tội mà có” và 09 (chín) tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy

tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”

- Căn cứ Điều 55 Bộ Luật Hình sự;

Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 01 (một) năm 06

(sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về hình phạt phạt chính, hình phạt bổ sung đối

với các bị cáo khác trong cùng vụ án; tuyên về xử lý vật chứng và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 19/12/2022 bị cáo Nguyễn Ngọc D làm đơn kháng cáo xin hưởng

án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo: Nguyễn Ngọc D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tóm tắt

nội dung vụ án, phân tích những những tình tiết định tội, định khung hình phạt

và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đã nhận định: Đủ căn cứ xác

định bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội

mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng mạng máy tính,

mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo

điểm c khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự.

Về hình thức: Bị cáo làm đơn kháng cáo trong hạn luật định là hợp lệ và

được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung kháng cáo: Bị cáo xin được xem xét cho hưởng án treo. Xét

thấy: Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng người, đúng tội. Tại phiên toà phúc

thẩm bị cáo không có tính tiết giảm nhẹ nào mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử

không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo không bào chữa, trong lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử

xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội chăm sóc mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào ngày 08/6/2022, tại cửa hàng điện thoại di động Hi-Michael số 239C

Lò Siêu, pH 11, Quận 11 do anh Nguyễn Ngọc H làm chủ, Nguyễn Ngọc D

biết rõ điện thoại Iphone 13 Promax do Thái Văn H phạm tội mà có nH vẫn

đồng ý mua với giá là 13.000.000 đồng. Trị giá điện thoại Iphone 13 Promax

theo Kết luận định giá là 25.500.000 đồng.

Sau đó, Dũng xóa tài khoản Icloud, đăng nhập vào tài khoản ứng dụng

Internet banking của bị hại để mua hai thẻ cào điện thoại mỗi thẻ mệnh giá

500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 1.000.000 đồng.

Với hành vi nêu trên, tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Tiêu thụ

tài sản do người khác phạm tội mà có” và tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng

viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Ngọc D kháng cáo làm trong hạn

luật định là hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.

- Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc D Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa

án cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đối với tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đối với tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” để từ đó xử phạt 09 tháng tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và 09 tháng tù, về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, đây là mức hình phạt phù hợp với quy định pháp luật.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo hiện nay có công việc ổn

định, có chỗ ở rõ ràng; bị cáo bị xét xử và kết án về 02 tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng. Căn cứ điểm b, khoản 4, Điều 3 Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC, ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao “Hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo”, thì bị cáo có đủ điều kiện để cho hưởng án treo.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo

Nguyễn Ngọc D , sửa bản án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc D ; sửa bản án sơ thẩm số

203/2022/HSST ngày 12/12/2022 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh

- Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật

Hình sự;

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 290; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều

51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Nguyễn Ngọc D 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người

khác phạm tội mà có” và 09 (chín) tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”

Căn cứ Điều 55; Điều 65 Bộ Luật Hình sự;

Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 01 (một) năm 06

(sáu) tháng tù, nH cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân PH 11, Quận 11, Thành phố Hồ Chí

Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại

khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm

nghĩa vụ của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết

định buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án.

Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị

kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

(Hội đồng xét xử đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ