- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thanh T phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh T phạm Tội tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG ——————— Bản án số: 195/2018/HS-ST Ngày 30-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Văn Cƣờng;
2. Bà Nguyễn Hồng Gấm.
- Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thƣơng, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 172/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 198/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Đỗ Thanh T, sinh năm 1991 tại thành phố Hồ Chí Minh; thƣờng trú: 67/4H đƣờng Q, Phƣờng A, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; T giáo: Không; con ông Đỗ Huỳnh T, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Lan K, sinh năm 1966; bị cáo có vợ là Trần Thị Mỹ H, sinh năm 1990 và 01 con, sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 14/4/2018 có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Hữu T, sinh năm 1995; thƣờng trú: Ấp Đ, xã T, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở: Căn nhà số 4, đƣờng E, phƣờng B, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Huỳnh Thuận P, sinh năm 1993; địa chỉ: phƣờng B, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
2. Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1972; thƣờng trú: Ấp Đ, xã T, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào đầu tháng 4 năm 2018 tên P thỏa thuận với Đỗ Thanh T đến gầm cầu vƣợt Sóng Thần nhận xe trộm cắp của P đi tiêu thụ (giao cho ngƣời khác) thì P trả công cho T mỗi một xe là 500.000 đồng, T đồng ý đồng thời P đƣa cho T 03 cầu chì; 03 thanh kẽm hình chữ U; 01 cây tua vít; 01 chìa khóa xe loại xe Yamaha; 01 chìa khóa xe loại xe Honda và hƣớng dẫn T cách mở xe bằng cầu chì.
Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 14/4/2018, T đang ngồi uống nƣớc ở khu vực Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh thì tên P (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại hẹn T đến gầm cầu vƣợt Sóng Thần để nhận xe mô tô Future đi tiêu thụ, T đón xe đi đến gầm cầu vƣợt Sóng Thần đợi đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì có 02 thanh niên không rõ lai lịch (ngƣời của P) đến giao cho T 01 xe Future biển số 70K1-417.17 (ổ xe không có chìa khóa và đã bị cạy phá). Sau khi nhận đƣợc xe, T điều khiển xe mô tô đi đến quán nƣớc gần đó ngồi chờ. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày P điện thoại nói T 19 giờ mang xe Future biển số 70K1-417.17 đến quán cà phê Anh và Em ở phƣờng An Bình giao cho khách. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày trong lúc T đang ngồi uống nƣớc thì gặp bạn gái tên D đến ngồi chung khoảng 30 phút sau T chở D (do trƣớc đó D nhờ T chở đến chợ Dĩ An 2) đi đến quán cà phê Anh và Em. Khi T đang điều khiển xe mô tô Future biển số 70K1-417.17 chở D đến đoạn đƣờng trƣớc bƣu điện Viettel thuộc khu phố Bình Đƣờng 1, phƣờng An Bình, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng thì bị anh Trần Hữu T, anh Nguyễn Huỳnh Thuận P và chị Nguyễn Thị P, đang trên đƣờng đi tìm xe bị mất trộm thì phát hiện T đang điều khiển xe của anh T bị mất nên anh T, anh P, chị P giữ T và xe mô tô Future biển số 70K1-417.17 đƣa về Công an phƣờng An Bình làm việc, còn D bỏ chạy bộ đi đâu không rõ. Tại Công an phƣờng T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên Công an phƣờng An Bình lập biên bản đầu thú đối với T.
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 13 giờ ngày 14/4/2018 anh Trần Hữu T điều khiển xe mô tô Future biển số 70K1-417.17 đi đến phòng trọ của bạn tại địa chỉ tổ 60A, khu phố B, phƣờng A, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng dựng xe ở trƣớc cửa phòng trọ để ngủ, đến khoảng 15 giờ cùng ngày anh T đi ra phát hiện xe bị mất trộm. Khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày anh T đến Công an phƣờng trình báo. Trên đƣờng về thì phát hiện đƣợc T cùng chiếc xe.
Theo bản kết luận định giá số 114/BB.ĐG ngày 23/4/2018 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xác định tài sản bị chiếm đoạt là xe mô tô Future biển số 70K1-417.17 có giá trị là 25.000.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không khiếu nại và không có ý kiến thắc mắc gì về kết luận định giá của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An.
Ngoài vụ tiêu thụ trên T còn khai, T đã nhận xe của P ở khu vực cầu vƣợt Sóng Thần 07 lần. Do không xác định đƣợc xe và chƣa bắt đƣợc P nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục điều tra khi nào có căn cứ xử lý sau.
Đối với vụ trộm cắp tài sản, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án.
Đối với tên P và hai ngƣời giao xe cho T chƣa rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh xử lý sau.
Đối với 03 cầu chì; 03 thanh kẽm hình chữ U; 01 cây tua vít, 01 chìa khóa xe loại Yamaha; 01 chìa khóa loại xe Honda P đƣa cho T để phục vụ cho việc tiêu thụ xe cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với điện thoại Nokia TA-1034 T dùng vào việc phạm tội cần tuyên tịch thu sung quỹ nhà nƣớc, tiêu hủy sim điện thoại 01222627169.
Tại cáo trạng số 182/CT - VKS ngày 26 tháng 6 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Đỗ Thanh T về tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Đỗ Thanh T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Trƣớc khi Hội đồng xét xử vào nghị án bị cáo T xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 14/4/2018, sau khi P điện thoại hẹn T đến nhận xe mô tô Future để đi tiêu thụ, 15 giờ cùng ngày T nhận xe mô tô Future biển số 70K1-417.17 (là xe của anh Trần Hữu T bị mất) từ hai ngƣời thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày T điều khiển xe mô tô Future biển số 70K1-417.17 để đi giao, khi đang đi đến đoạn đƣờng trƣớc bƣu điện Viettel thuộc khu phố Bình Đƣớng 1, phƣờng An Bình, thị xã Dĩ An thì T bị anh T, anh P, chị P phát hiện bắt giữ cùng chiếc xe mô tô.
Xét, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ngƣời làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhƣ biên bản tiếp nhận ngƣời phạm tội ra đầu thú, bản kết luận định giá, sơ đồ hiện trƣờng và biên bản xác định địa điểm có đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo T biết rõ tài sản P thỏa thuận với bị cáo mang đi tiêu thụ là tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có nhƣng vẫn mang đi tiêu thụ, tài sản bị cáo tiêu thụ có giá trị thực tế là 25.000.000 đồng. Vì vậy, Cáo trạng số 182/CT-VKS ngày 26/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo phạm tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), là hoàn toàn có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Khoản 1 Điều 323 bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.……”
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trong nhƣng nó đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính; xem thƣờng pháp luật; gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trong, bị cáo đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chƣa có tiền án tiền sự.
Xử lý vật chứng:
- Xét 03 cầu chì; 03 thanh kẽm hình chữ U; 01 cây tua vít, 01 chìa khóa xe loại Yamaha; 01 chìa khóa loại xe Honda P đƣa cho T để phục vụ cho việc tiêu thụ xe và sim điện thoại 01222627169 không còn giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Xét điện thoại Nokia TA-1034 T dùng vào việc phạm tội cần tuyên tịch thu sung quỹ nhà nƣớc.
Đối với tên P và hai ngƣời giao xe cho T chƣa rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh xử lý sau.
Mức hình phạt nhƣ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh T phạm Tội tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2018.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 03 cầu chì; 03 thanh kẽm hình chữ U; 01 cây tua vít, 01 chìa khóa xe loại Yamaha; 01 chìa khóa xe loại Honda và 01 sim số 01222627169.
- Tịch thu sung quỹ nhà nƣớc điện thoại Nokia TA-1034 đen trắng (số imei 353408095767867).
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/6/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, bút lục số 94).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đỗ Thanh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể tƣ̀ ngày tuyên án . Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Dĩ An; - Công an thị xã Dĩ An; - Chi cục THADS thị xã Dĩ An; - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Trại tạm giam CA tỉnh Bình Dƣơng; - Phòng PV 27 Công an tinh Bỉ nh Dƣơng;̀ - Phòng PC 81 Công an tinh Bỉ nh Dƣơng;̀ - Bị cáo; - Đƣơng sự; - UBND Phƣờng 14, Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh; - Lƣu: VT, HSVA. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Hoa THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |