- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lương L.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30-5-2023 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thùy My Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Hoàng Ái
Ông Lê Thiên Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Thị Hoài Nụ - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ngân - Kiểm sát viên. Trong ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 902/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ ra xét xử số 69/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lương L - Sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn T, xã B, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Lương T - Sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 12/12/2022, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lương L trình bày:
Bà và ông Lương T tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn vào năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã Ninh Hòa. Cuộc sống hôn nhân giữa vợ chồng không hạnh phúc do tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung, ông T thường xuyên nhậu nhẹt, đánh đập, chửi bới vợ, từ đó khiến cho cuộc sống chung không còn hạnh phúc, mâu thuẫn không thể hòa giải được nên bà và hai con đã chuyển về sinh sống cùng mẹ ruột tại thôn H, xã B từ giữa năm 2022. Đến nay, bà nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T.
- Về con chung: Vợ chồng có tất cả hai người con chung là Lương T, sinh ngày 03/12/2009 và Lương N, sinh ngày 21/10/2014. Hiện tại, bà L đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung. Tòa giải quyết cho ly hôn bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục hai con chung đến tuổi trưởng thành. Bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi hai con chung.
Về tài sản chung: Bà Lương L xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Lương L xác nhận vợ chồng không nợ chung của ai.
* Bị đơn ông Lương T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình trốn tránh không có mặt nên không có bản tự khai và không tiến hành hòa giải được.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến trình bày:
+ Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án là đúng theo quy định.
Về thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án: Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
+ Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương L được ly hôn với ông Lương T.
- Về con chung: Giao hai con chung là cháu Lương T, sinh ngày 03/12/2009 và Lương N, sinh ngày 21/10/2014 cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi hai con chung. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Bà Lương L không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bà Lương L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Lương T có hộ khẩu thường trú tại: Thôn T, xã Q, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Do vậy, căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 207 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Lương L yêu cầu ly hôn với ông Lương T và yêu cầu giải quyết nuôi con chung nên Hội đồng xét xử xác định đây là ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử xét thấy bà Lương L và ông Lương T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q theo Giấy chứng nhận kết hôn số 52/2009, ngày 10 tháng 8 năm 2009. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Lương L và ông Lương T là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu của đương sự, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, biên bản xác minh và được thẩm tra công khai tại phiên tòa nhận thấy: Xét thấy trong quá trình chung sống giữa bà L và ông T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không ai còn quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng hiện nay không còn. Hơn nữa, bà L và ông T không còn chung sống với nhau từ giữa năm 2022 đến nay. Xét thấy, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà L là phù hợp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông Lương T nhưng ông T đều không tham gia. Đồng thời, ông T cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà L. Do vậy, xem như ông T tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình. Trên cơ sở xem xét quan điểm trình bày của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa là phù hợp với Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Vợ chồng có tất cả hai người con chung là Lương T, sinh ngày 03/12/2009 và Lương N, sinh ngày 21/10/2014. Hiện tại, bà L đang trực tiếp chăm sóc hai con chung. Nay bà L yêu cầu trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, và giáo dục hai con chung đến tuổi trưởng thành. Bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy: Việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Xét thấy: Trong vụ án này, từ khi mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, bà L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung; hơn nữa hai con chung là T và N có nguyện vọng được sự chăm sóc của mẹ và đồng thời, bà L có yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung, cũng không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ nhưng ông T đều không tham gia tố tụng tại tòa, xem như ông T tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình. Do đó, quan điểm trình bày của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa là phù hợp với Hội đồng xét xử nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao hai con chung cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành; bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung; ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở theo quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản chung: Bà Lương L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: Bà Lương L xác nhận vợ chồng không có nợ chung của ai nên không xem xét.
Về án phí: Bà Lương L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 232, Điều 264, Điều 266, Điều 269, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lương L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương L được ly hôn ông Lương T.
2. Về con chung: Giao hai con chung là cháu Lương T, sinh ngày 03/12/2009 và Lương N, sinh ngày 21/10/2014 cho bà Lương L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến trưởng thành. Bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi hai con chung. Ông Lương T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con khi cần thiết cha, mẹ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung hoặc khi có căn cứ theo điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
3. Về án phí: Bà Lương L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2021/0005536 ngày 20 tháng 12 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Bà L đã nộp đủ án phí theo phiếu thu như trên.
Quy định chung: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thị xã Ninh Hòa; - Chi cục THADS thị xã Ninh Hòa; - UBND xã Q theo Giấy CNKH số 52/2009, ngày 10 tháng 8 năm 2009; - Các đương sự; - Lưu: HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thùy My |