- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2023/HNGĐ-ST Ngày: 15-11-2023. V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Chất
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Thành
Bà Nguyễn Thị Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 317/2023/TLST-HNGĐ ngày 30/10/2023 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2023/QĐXX-ST ngày 31/10/2023, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Bà Đào Thị L, sinh năm 1968; Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (xin vắng mặt).
*Bị đơn: Ông Lê Khắc H, sinh năm 1952; Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Đào Thị L trình bày: Bà L và ông H đã tìm hiểu, tự nguyện chung sống với nhau đến ngày 26/12/2016 thì làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, cuộc sống chung của vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cải vã, tình cảm vợ chồng không còn, không tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau, mặc dù đã hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không thay đổi nên mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy yêu cầu được ly hôn với ông H.
Về con chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà L và ông H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Lê Khắc H trình bày: ông H và bà L đã tìm hiểu, tự nguyện chung sống với nhau nhiều năm, đến ngày 26/12/2016 thì làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tân Bình, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước theo quy định pháp L, cuộc sống chung của vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cải vã, tình cảm vợ chồng không còn, không tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau, mặc dù đã hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không thay đổi nên đồng ý ly hôn với bà L.
Về con chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông H và bà L tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bà Đào Thị L có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Lê Khắc H, đây là vụ án tranh chấp ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là ông H cư trú tại khu phố Thanh Bình, phường Tân Bình, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền quy định của pháp luật.
[2]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Bà Đào Thị L và ông Lê Khắc H có đơn xin xét xử vắng mặt theo quy định pháp L, việc vắng mặt là hợp lệ. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông H đã tìm hiểu, tự nguyện chung sống với nhau đến ngày 26/12/2016 thì làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tân Bình, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước theo quy định pháp L, cuộc sống chung của vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cải vã, tình cảm vợ chồng không còn, không tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau, mặc dù đã hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không thay đổi, vì vậy bà L yêu cầu được ly hôn với ông H. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H cũng thừa nhận quá trình chung sống thì vợ chồng sống không hạnh phúc, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cải vã, tình cảm vợ chồng không còn, không tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau, mặc dù đã hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không thay đổi nên đồng ý ly hôn với bà L
Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân tồn tại phải trên cơ sở tình cảm tự nguyện của hai bên, hiện nay bà L và ông H mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết được nữa, đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, cuộc sống chung căng thẳng ngột ngạt, tình cảm vợ chồng không còn, không tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau, vì vậy cần chấp nhận cho bà L được ly hôn với ông H là có căn cứ, phù hợp với qui định của pháp L.
[4]. Về con chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
[5]. Về tài sản chung, cho vay chung và nợ chung: Bà L và ông H tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bà L phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Thị L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị L được ly hôn ông Lê Khắc H.
2. Về con chung: Không xem xét giải quyết
3. Về tài sản chung,cho vay chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bà L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005253 ngày 27 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
5. Quyền kháng cáo: Bà L, ông H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Phước; -VKSND TP. Đồng Xoài; -Chi cục THADS TP. Đồng Xoài; -UBND xã phường (nơi ĐKKH); -Các đương sự; -Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Chất |