vanban.org

Bản án 72/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ngọc D.

Về hôn nhân: Xử cho bà Phạm Thị Ngọc D được ly hôn với ông Quách Minh M. Về con chung: Giao cháu Quách Thiên B, sinh ngày 14/01/2019 cho bà D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi cháu B thành niên. Ông M không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ngọc D.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 7 - 2023
V/v ly hôn,
tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Linh.

Bà Võ Thị Nhì.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ông Thị Cành Nha –Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Hoa – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 80/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Phạm Thị Ngọc D; Sinh năm: 1995. Địa chỉ: ấp Ng, xã Đ, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Quách Minh M; Sinh năm: 1991. Địa chỉ: ấp C, thị trấn Tr, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 02 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Phạm Thị Ngọc D trình bày:

Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Ngọc D và ông Quách Minh M tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn Trần Đề, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận số 25, ngày 12/02/2018. Thời gian đầu vợ chồng sống chung rất hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, từ đó cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Nay bà D xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông M không còn, nên bà D yêu cầu ly hôn với ông M; Về con chung: Trong thời gian chung sống bà D và ông M có 01 người con chung tên Quách Thiên B, sinh ngày 14/01/2019, hiện nay B đang sống chung với bà D. Bà D yêu cầu nuôi con chung là Quách Thiên B, sinh ngày 14/01/2019 cho đến khi thành niên, không yêu cầu ông M phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: không có, nên bà D không có yêu cầu gì.

Bị đơn là ông Quách Minh M đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải, ông M không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cũng như không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông M.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Trong vụ án này Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là xử cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn, xử giao cháu Quách Thiên B, sinh ngày 14/01/2019 cho bà D nuôi dưỡng đến khi thành niên; Về tài sản chung và nợ chung, không có đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Ông Quách Minh M là bị đơn trong vụ án, ông M đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông M.

[1.2] Đối với nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc D đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà D.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Phạm Thị Ngọc D và ông Quách Minh M là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại đơn khởi kiện ngày 08 tháng 02 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà D yêu cầu được ly hôn với ông M là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu của bà D. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho bà D được ly hôn với ông M.

Về con chung: Trong thời gian chung sống bà D và ông M có 01 người con chung tên là Quách Thiên B, sinh ngày 14/01/2019, hiện nay cháu B đang sống với bà D. Tại đơn khởi kiện ngày 08 tháng 02 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà D yêu cầu được nuôi con chung tên là Quách Thiên B, sinh ngày 14/01/2019 cho đến khi thành niên, không yêu cầu ông M phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với bị đơn là ông Quách Minh M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về nội dung yêu cầu của bà D, nhưng ông M không có văn bản trả lời về nội dung yêu cầu của bà D. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay, cháu Quách Thiên B, sinh ngày 14/01/2019 đang sống chung với bà D. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Quách Thiên B, sinh ngày 14/01/2019 cho bà D nuôi dưỡng đến khi thành niên, do bà D không yêu cầu ông M phải cấp dưỡng nuôi con, nên ông M không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho ông M không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà D không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà D phải chịu nghĩa vụ án phí đối với vụ án hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng; Ông M không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và Lệ phí; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ngọc D.

1. Về hôn nhân: Xử cho bà Phạm Thị Ngọc D được ly hôn với ông Quách Minh M.

2. Về con chung: Giao cháu Quách Thiên B, sinh ngày 14/01/2019 cho bà D trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi cháu B thành niên. Ông M không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho ông M, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà D không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị Ngọc D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, nhưng bà D được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006708 ngày 23 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà D đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm; Ông Quách Minh M không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị Ngọc D và ông Quách Minh M có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ