vanban.org

Bản án 72/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị M.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Quốc T. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 04/8/2008 cho bà Nguyễn Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHỤNG HIỆP
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 4 -2023.
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Tuấn Khanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thế Tự

2. Ông Dương Hoàng Khải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Cẩm Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 730/2022/TLST-HN ngày 14 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXX-ST ngày 17 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị M, sinh năm 1984 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T1, xã T2, huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng.

Bị đơn: Nguyễn Quốc T, sinh năm 1986 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp N, xã H, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày: Bà và ông T qua tìm hiểu quen biết, sau một thời gian thì tiến tới hôn nhân. Chúng tôi có tổ chức lễ cưới theo phong tục tại địa phương và có đăng ký kết tại Ủy ban nhân dân xã TH, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang ngày 24/3/2008.

Thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hạnh phúc. Sau đó, đến năm 2017 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không còn yêu thương, chăm sóc chia sẽ lẫn nhau, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, tình trạng hôn nhân không thể hàn gắn được nên đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Nên tôi khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Quốc T.

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Nguyễn Quốc T.

Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung: Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 04/8/2008. Cháu hiện đang sống chung với bà M, bà yêu cầu được nuôi dưỡng cháu và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn Nguyễn Quốc T vắng mặt nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy trình thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án, kiểm sát viên đề nghị: Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Quốc T; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 04/8/2008 cho bà M chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: các đương sự chưa có yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bị đơn Nguyễn Quốc T có địa chỉ tại ấp Nhì, xã TH, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn Nguyễn Quốc T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại các phiên tòa, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn xuất phát từ sự tự nguyện, quá trình sống chung đến nay có đăng ký kết hôn theo luật định nên quan hệ hôn nhân giữa các đương sự được pháp luật thừa nhận. Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bà M và ông T bất đồng quan điểm trong cuộc sống hằng ngày, vợ chồng thường xuyên xảy ra xung đột trong tình cảm vợ chồng nên không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Từ đó, vợ chồng không còn tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, hôn nhân không còn hòa hợp. Bà M và ông T đã Nều lần hàn gắn nhưng không giải quyết được nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Quá trình giải quyết, Hội đồng xét xử cũng đã tạo điều kiện cho bà M có cơ hội hàn gắn nhưng bà vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã thật sự trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung: Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 04/8/2008. Bà M có yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu. Đồng thời, hiện nay cháu N đang sống chung với bà M và cháu cũng có nguyện vọng được sống chung với bà nên cần ổn định cuộc sống cho cháu. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà M và cháu N. Mặt khác, nhằm ổn định cuộc sống cho cháu, tránh gây xáo trộn nên Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục giao cháu N cho bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Dành quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Nguyễn Quốc T không ai có quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con chung do các đương sự chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét

Về án phí hôn nhân và gia đình: Nguyên đơn phải nộp 300.000 đồng theo

quy định.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 51, Điều 53; Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị M.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Quốc T.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 04/8/2008 cho bà Nguyễn Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Dành quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Nguyễn Quốc T không ai có quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con chung do các đương sự chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000703 ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Bà Nguyễn Thị M không phải nộp thêm.

5. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ