- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị D - Nguyễn T"
- Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị D được ly hôn với ông Nguyễn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2023/HNGĐ-ST Ngày 26-9-2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Triều Vũ Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Rực
Ông Hà Phương Đông
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Long Phú tham gia phiên tòa: Bà Dương Hồng Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường xét xử – Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tiến hành mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2023/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2023; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1991; địa chỉ thường trú: Ấp A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; nơi ở hiện tại: Số 185, ấp C, xã T, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn T, sinh năm 1990; địa chỉ: Số 202/4, Ấp A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/5/2023 cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị D trình bày:
Năm 2015, bà D và ông T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi kết hôn ông, bà chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hằng ngày, đời sống vợ chồng không hạnh phúc. Trong thời gian chung sống ông, bà có 01 (một) người con chung là cháu Nguyễn Vân T, sinh ngày 18/6/2016. Quá trình chung sống không có tài sản chung; không có nợ chung.
Nay bà Phạm Thị D yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Phú giải quyết: Về hôn nhân: Bà Phạm Thị D yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn T. Về con chung: Yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Vân T đến khi thành niên và không yêu cầu ông Nguyễn T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Tờ tường trình lập ngày 08/9/2023 bị đơn ông Nguyễn T trình bày: Ông có biết việc bà Phạm Thị D yêu cầu ly hôn. Ông có ý kiến như sau: vào năm 2015, ông và bà D có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Trong quá trình chung sống có một người chung tên Nguyễn Vân T. Hiện cháu T đang sống cùng mẹ và bà ngoại. Về tài sản chung: Không có tài sản chung. Về nợ chung: Không có nợ chung. Về nguyên nhân mâu thuẫn như bà D trình bày trong đơn khởi kiện không đúng. Đối với yêu cầu ly hôn của bà D, thì ông không đồng ý ly hôn. Lý do: Ông muốn giữ gia đình cho con. Trường hợp Tòa án giải quyết cho bà D ly hôn thì ông đồng ý giao bé Nguyễn Vân T cho bà D tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên và ông không cấp dưỡng nuôi con. Về nợ chung và tài sản chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với những người tham gia tố tụng, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó HĐXX căn cứ vào khoản 2, Điều 227, khoản 3 Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông T.
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2015, bà D và ông T sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Xét thấy việc chung sống của ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được công nhận là vợ chồng. Tòa án đã triệu tập ông T đến tham dự phiên hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn, nhưng ông T vẫn vắng mặt. Tại biên bản xác minh ngày 16/8/2023, đại diện ban nhân dân Ấp A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng cho biết về tình trạng mâu thuẫn hôn nhân giữa bà D và ông T thì địa phương không nắm rõ, do khi xảy ra mâu thuẫn các bên không trình báo. Tại phiên tòa bà D vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn. Nhận thấy hai bên đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng không thể tiếp tục duy trì đời sống vợ chồng với nhau. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận cho bà D được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà Phạm Thị D và ông Nguyễn T thống nhất xác định trong thời chung sống ông bà có có 01 (một) người con chung là cháu Nguyễn Vân T, sinh ngày 18/6/2016.
Xét thấy: Kể từ khi ly thân đến nay cháu T đều do bà Phạm Thị D chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, việc thay đổi điều kiện, hoàn cảnh sống sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về mọi mặt của cháu T. Vì vậy, nhằm đảm bảo cho sự phát triển và ổn định của cháu T, HĐXX quyết định giao cháu T cho bà D tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên, cũng phù hợp với ý kiến và nguyện vọng của cháu T.
Về cấp dưỡng: Bà D không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị D và ông Nguyễn T xác định trong thời gian chung sống ông bà không có tạo lập được tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Phạm Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Ông Nguyễn T không phải chịu án phí.
Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 235; Điều 271, khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị D được ly hôn với ông Nguyễn T.
2/ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Vân T, sinh ngày 18/6/2016 cho bà Phạm Thị D tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên. Ông Nguyễn T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho ông Nguyễn T mà không ai được cản trở.
3/ Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị D và ông Nguyễn T xác định trong thời gian chung ông bà không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị D có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0010023 ngày 19/7/2023. Bà Phạm Thị D đã nộp xong. Ông Nguyễn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
5/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
6/ Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Long Phú; - Chi cục THADS huyện Long Phú; - Các đương sự; - UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Triều Vũ Hà |