vanban.org

Bản án 72/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Kim H.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Huỳnh Kim H được ly hôn với anh Nguyễn Phan Minh T. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Minh H, sinh ngày 12/9/2021 cho chị Huỳnh Kim H trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Kim H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28/4/2023
V/v "Tranh chấp ly hôn, nuôi con".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh Tuyết

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Trước

2. Ông Trần Thanh Khen

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 28 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 16/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Huỳnh Kim H, sinh năm 1994 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số 505C/C, phường 14, quận 10, thành phố H.

Tạm trú: 10/15, đường số 8, phường B, quận T, thành phố H.

Bị đơn: Anh Nguyễn Phan Minh T, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Huỳnh Kim H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T tìm hiểu, tự nguyện tiến đến hôn nhân, được gia đình hai bên tổ chức hôn lễ và có đăng ký kết hôn ngày 26/11/2018 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung tại nhà của chị ở phường B, quận T, thành phố H đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cự cãi nhau. Anh T đã bỏ về xã H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long sống hơn 01 năm, vợ chồng không liên lạc với nhau đến khoảng tháng 11/2022 anh T quay lại nhà chị và muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị không đồng ý nên anh T đã đánh chị, từ đó đến nay chị và anh T không còn liên lạc với nhau nữa. Nay chị nhận thấy vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Phan Minh T.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Minh H, sinh ngày 12/9/2021, hiện đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Chị có đủ điều kiện nuôi con như chị đang làm công việc buôn bán thu nhập mỗi tháng khoảng 10.000.000 đồng, có chỗ ở ổn định hiện đang sống chung với mẹ ruột nên có mẹ phụ giúp chăm sóc con.

- Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác.

- Bị đơn Nguyễn Phan Minh T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, cũng không có bản khai ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn Huỳnh Kim H khởi kiện về việc xin ly hôn, nuôi con với bị đơn Nguyễn Phan Minh T có địa chỉ tại xã H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long thụ lý và giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình theo thủ tục sơ thẩm được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt xét xử và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T kết hôn có đăng ký kết hôn vào ngày 26/11/2018 tại UBND xã H, huyện Long Hồ do đó quan hệ hôn nhân là hợp pháp và được pháp luật công nhận.

Về mâu thuẫn vợ chồng theo nguyên đơn trình bày, trong thời gian chung sống chị H và anh T phát sinh mâu thuẫn nên hay cự cãi nhau, vợ chồng không còn sống chung từ đầu năm 2022 đến nay, cũng không liên lạc với nhau. Chị H xác định vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Phan Minh T

Xét thấy, giữa chị H và anh T không còn sống chung từ năm 2022 đến nay, không thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng, không quan tâm, chăm sóc nhau. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án cho đến tại phiên tòa hôm nay, anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên mặc nhiên anh T cũng đã biết được nguyên nhân dẫn đến ly hôn nhưng anh vẫn chưa có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị H. Từ đó cho thấy anh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng vợ chị H.

Vì vậy, có căn cứ để xác định các bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu của chị H yêu cầu được ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

- Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Minh H, sinh ngày 12/9/2021 hiện chị H đang nuôi dưỡng. Chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung.

Xét thấy, con chung hiện đang dưới 36 tháng tuổi và hiện chị H đang nuôi dưỡng do đó để ổn định cuộc sống cho cháu nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu H cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh Nguyễn Phan Minh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Chị H không yêu cầu giải quyết và bị đơn anh T vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Buộc chị H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Căn cứ các Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Kim H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Huỳnh Kim H được ly hôn với anh Nguyễn Phan Minh T.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Minh H, sinh ngày 12/9/2021 cho chị Huỳnh Kim H trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Nguyễn Phan Minh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét, giải quyết.

4. Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí: Buộc chị Huỳnh Kim H nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ từ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo biên lai thu số 0004650 ngày 11/01/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long nên chị H không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ