- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Mạc Thị Trang - Bị đơn Lô Văn Thắng"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mạc Thị Tr.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 5 - 2023 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà La Thị Huyền.
Ông Đào Xuân Thanh.
Thư ký phiên tòa: Ông Quang Lương Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Con Cuông – tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 37/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 378/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Mạc Thị Tr. sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Bản KhĐ, xã ThNg, huyện CC, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Bị đơn: Anh Lô Văn Th, sinh năm 1988.
Nơi cư trú: Bản KhĐ, xã ThNg, huyện CC, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt không có lý do.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Thế Kỷ. Trợ giúp viên – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 08/2/2023 và quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn chị Mạc Thị Tr trình bày:
Về tình cảm: Giữa chị Mạc Thị Tr và bị đơn anh Lô Văn Th kết hôn với nhau vào ngày 24 tháng 3 năm 2008 tại UBND xã Thạch Ngàn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc cho đến thời gian năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Nguyên nhân là do quan điểm, tính cách không phù hợp, anh Th hay uống rượu bia, không chịu khó làm ăn, không quan tâm chăm sóc vợ con. Việc mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình nội ngoại và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần, nhưng sau mỗi lần hòa giải tình cảm vẫn không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng, vì vậy mà từ năm 2015 cho đến nay, vợ chồng chị không còn sống chung với nhau, chị về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống. Chị Tr thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với bị đơn anh Lô Văn Th.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 người con chung tên là Lô Thị H, sinh ngày 04/10/2005 và Lô Văn T sinh ngày 03/5/2007. Hiện nay các con đang do chị Tr trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cả hai người con và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Mạc Thị Tr và anh Lô Văn Th không có tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị Tr và anh Th không vay nợ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào cũng như không cho ai vay nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn anh Lô Văn Th vắng mặt mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Toà án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Phạm Thế Kỷ trình bày: Thống nhất và đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Mạc Thị Tr. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56; Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Mạc Thị Tr được ly hôn với anh Lô Văn Th và giao 02 con chung cho chị Mạc Thị Tr được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử cho chị Mạc Thị Tr được ly hôn với anh Lô Văn Th; Về con chung: Giao con chung Lô Thị H, sinh ngày 04/10/2005 và Lô Văn T sinh ngày 03/5/2007 cho chị Mạc Thị Tr trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành, đủ 18 tuổi, hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Lô Văn Th do chị Tr không yêu cầu; Về tài sản và nợ chung: Chị Mạc Thị Tr và anh Lô Văn Th không có tài sản chung và không có các khoản nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét; Về án phí: Chị Mạc Thị Tr phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, bị đơn hiện cư trú tại Bản Khe Đóng, xã Thạch Ngàn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thông báo, triệu tập theo thủ tục tố tụng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt các quyết định của Tòa án; Bị đơn không chấp hành các quyết định của Tòa án, gây khó khăn cho công tác điều tra, thu thập chứng cứ. Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt, niêm yết cho đương sự hợp lệ, nhiều lần. Nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ. Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn và bị đơn có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chưa thành niên khi ly hôn nên theo quy định, Tòa án xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp tại UBND xã Thạch Ngàn, huyện Con Cuông là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét thấy chị Mạc Thị Tr và anh Lô Văn Th đăng ký kết hôn vào ngày 24 tháng 3 năm 2008 tại UBND xã Thạch Ngàn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy hôn nhân giữa chị Tr và anh Th là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc cho đến cuối năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo chị Tr, nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm, tính cách không phù hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau, không quan tâm và chăm sóc lẫn nhau. Tại phiên tòa anh Th vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương cho thấy giữa vợ chồng chị Tr và anh Th thường xuyên xẩy ra mâu thuân không thể hàn gắn được, vì vậy mà hiện nay hai vợ chồng đã không còn sống chung với nhau nữa, chị Tr đã về sống cùng bố mẹ đẻ còn anh Th thường xuyên đi đâu làm gì ở đâu không thông báo cho chị Tr và chính quyền địa phương biết. Như vậy, chị Tr và anh Th đã vi phạm quy định về tình nghĩa vợ chồng, không sống chung với nhau mà không có lý do chính đáng. Xét thấy, giữa chị Tr và anh Th mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014, xử cho chị Tr được ly hôn với anh Th.
Về con chung: Chị Tr và anh Th có 02 người con chung tên là Lô Thị H, sinh ngày 04/10/2005 và Lô Văn T sinh ngày 03/5/2007. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà chị Tr vẫn giữ nguyên yêu cầu được nuôi cả hai người con và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy khi cha, mẹ ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về vật chất lẫn tinh thần. Như vậy nguyện vọng của chị Tr là chính đáng, thể hiện tinh thần và trách nhiệm của cha mẹ dành cho con. Xem xét về điều kiện nuôi con thấy rằng chị Tr có đủ điều kiện để chăm sóc và giáo dục con. Mặt khác qua xác minh thấy rằng anh Th hiện nay không có mặt ở địa phương, vì vậy để đảm bảo sự ổn định tâm lý, tránh xáo trộn cuộc sống của các con nên việc giao con cho chị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Lô Thị H và cháu Lô Văn T trưởng thành, hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Th do chị Tr không yêu cầu.
Về tài sản chung và các khoản nợ: Do các đương sự đã không có tài sản chung, không có các khoản nợ và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Mạc Thị Tr phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mạc Thị Tr.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Mạc Thị Tr được ly hôn với anh Lô Văn Th.
2.Về con chung: Giao con chung tên là Lô Thị H, sinh ngày 04/10/2005 và Lô Văn T sinh ngày 03/5/2007 cho chị Mạc Thị Tr trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh Lô Văn Th không phải cấp dưỡng tiền nuôi con do chị Mạc Thị Tr không yêu cầu. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.
Anh Lô Văn Th có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Nếu anh Lô Văn Th lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Chị Mạc Thị Tr cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Lô Văn Th trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí: Chị Mạc Thị Tr phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000766 ngày 20 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; chị Mạc Thị Tr đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo đến Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Các đương sự - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND H. Con Cuông - Chi cục THADS H. Con Cuông - UBND xã Thạch Ngàn; - Lưu Hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hà Văn Hải |