vanban.org

Bản án 72/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 24/07/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Tiến T với bị đơn ông Nguyễn Quốc K về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc ông Nguyễn Quốc K có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Tiến T số tiền 227.833.000 (hai trăm hai mƣơi bảy triệu tám trăm ba mƣơi ba nghìn) đồng; trong đó: nợ gốc 150.000.000 (một trăm năm mƣơi triệu) đồng và tiền lãi 77.833.000 (bảy mƣơi bảy triệu tám trăm ba mƣơi ba nghìn) đồng, tính đến ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Tiến T - Nguyễn Quốc K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Tiến T với bị đơn ông Nguyễn Quốc K về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 72/2023/DS-ST
Ngày: 24-7-2023
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Từ Anh Tuấn,

2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Hoài Phƣơng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hạnh, Kiểm sát viên.

Vào ngày 24 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 156/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 85/2023/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 6 năm 2023, quyết định hoãn phiên tòa số 92/2023/QĐST-DS ngày 03/7/2023, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: ông Nguyễn Tiến T; sinh năm 1967; địa chỉ: quốc lộ 1K, khu phố N, phƣờng B, thành phố D, tỉnh B.

Ngƣời đại diện hợp pháp: ông Đoàn Văn Đ, sinh năm 1959; địa chỉ: 175 Lê Văn V, khu phố 4, phƣờng H, thành phố T, Thành phố H, là ngƣời đại diện theo ủy quyền, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: ông Nguyễn Quốc K, sinh năm 1970; địa chỉ: 41/15 đƣờng Nguyễn Văn T, khu phố T, phƣờng D, tỉnh B, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 06/3/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Tiến T là ông Đoàn Văn Đ trình bày:

Do quen biết nhau nên vào năm 2019, ông T cho ông K vay 200.000.000 đồng, hai bên có làm giấy vay tiền, thỏa thuận lãi suất 20%/năm, thời hạn vay từ ngày 20/8/2019 đến ngày 20/12/2020, nhƣng nếu quá 1 tháng mà bên vay không trả lãi thì thời hạn nêu trên không còn giá trị bên vay phải trả gốc cho bên cho vay. Tuy nhiên, trên thực tế hai bên chỉ giao nhận số tiến 150.000.000 đồng. Ông K ghi số tiền thực nhận vào giấy vay tiền. Ông T chỉ lấy lãi từ tháng 8/2019 đến tháng 8/2020. Từ tháng 9/2020 đến ngày 20/2/2020 thì ông T không tính lãi cho ông K.

Từ 20/12/2020 đến nay ông K không trả khoản tiền lãi nào cho ông T, mặc dù, ông T rất nhiều lần yêu cầu. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu ông K trả số tiền gốc còn nợ là 150.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 20/12/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm, mức lãi suất 20%/năm là 31 tháng 04 ngày là 77.833.000 đồng; tổng cộng cả gốc và lãi là 227.833.000 đồng.

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: giấy vay tiền ngày 20/8/2019.

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Quốc K: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu ông K có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông T nhƣng ông K không có ý kiến, đồng thời cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì. Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu ông K tham gia hòa giải vào ngày 08/6/2023 nhƣng ông K vắng mặt không có lý do. Vì vậy, vụ án không tiến hành hòa giải đƣợc theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án tống đạt văn bản tố tụng yêu cầu ông K tham gia phiên tòa vào ngày 03/7/2023 và ngày 24/7/2023 nhƣng ông K vẫn vắng mặt không có lý do. Nhƣ vậy, việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông T đƣợc xem xét trên cơ sở chứng cứ do ông T cung cấp.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhƣng không chấp hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã đƣợc triệu tập tham gia phiên tòa vào ngày 03/7/2023 và ngày 24/7/2023 nhƣng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đƣơng sự là đúng với quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Tòa án nhận định:

Về tố tụng: Ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai mà vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Ông Nguyễn Tiến T xác định số tiền vay là tài sản riêng của ông và nợ riêng của ông K, yêu cầu Tòa án không đƣa vợ ông T và vợ ông K tham gia tố tụng với tƣ cách ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vì vậy, Tòa án không đƣa vợ ông T và ông K tham gia tố tụng với tƣ cách là ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Quốc K đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không cung cấp chứng cứ gì, vì vậy, ông K phải gánh chịu hậu quả do việc không cung cấp chứng cứ theo quy định tại Điều 96 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đƣợc xem xét trên cơ cở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

Xét thấy, giấy vay tiền ngày 20/8/2019 do nguyên đơn cung cấp và xác định do chính ông K ký nhận là cơ sở để xác định ông K có vay của ông T số tiền 150.000.000đ. Đến ngày 10/9/2020, ông K viết xác nhận ở phía dƣới giấy vay tiền có nội dung thừa nhận số tiền vay thực tế của ông T là 150.000.000 đồng. Nay ông K không cung cấp chứng cứ chứng minh đã thanh toán nợ, tức là ông K chƣa thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng cam kết. Ông T căn cứ vào các giấy mƣợn tiền này để yêu cầu ông K trả số tiền còn nợ 150.000.000 đồng là phù hợp với quy định của Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 nên chấp nhận.

Về lãi suất: Tại giấy vay tiền ngày 20/8/2019, các bên thỏa thuận lãi suất 20%/năm, thời hạn vay từ ngày 20/8/2019 đến ngày 20/12/2020. Nhƣ vậy, đây là trƣờng hợp vay có thỏa thuận lãi suất và có thời hạn. Bị đơn không cung cấp chứng cứ về việc đã thanh toán tiền lãi cho nguyên đơn. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi từ ngày 20/12/2020 đến ngày 24/7/2023 theo mức lãi suất 20%/năm là 31 tháng 04 ngày là 77.833.000 đồng, là phù hợp với thỏa thuận của đƣơng sự và quy định tại Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự.

Từ những phân tích trên, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp.

Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Quốc K phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 357, Điều 468, Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Tiến T với bị đơn ông Nguyễn Quốc K về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc ông Nguyễn Quốc K có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Tiến T số tiền 227.833.000 (hai trăm hai mƣơi bảy triệu tám trăm ba mƣơi ba nghìn) đồng; trong đó: nợ gốc 150.000.000 (một trăm năm mƣơi triệu) đồng và tiền lãi 77.833.000 (bảy mƣơi bảy triệu tám trăm ba mƣơi ba nghìn) đồng, tính đến ngày 24/7/2023.

Kể từ ngày 25/7/2023 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận 20% năm.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Quốc K phải chịu 11.391.000 (mƣời một triệu ba trăm chín mƣơi mốt nghìn) đồng. Hoàn trả cho ông Nguyễn Tiến T 6.375.000 (sáu triệu ba trăm bảy mƣời lăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006273 ngày 13/4/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An.

3. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ