vanban.org

Bản án 72/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 22/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Long Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Long Văn T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt giam 10/02/2022. Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Long Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Long Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2022/HSST
Ngày: 22/7/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Hợp

Các hội thẩm nhân dân: Ông Luân Văn Lý

Ông Đoàn Văn Hộ

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Quỳnh Như - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2022/HSST ngày 27 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:

Họ và tên: Long Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 12/01/1986 tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú: Xóm Khuổi Hoi, xã N, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12 phổ thông; Con ông: Long Văn T - sinh năm 1968 (trú tại: xóm Khuổi Hoi, xã N, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng); Con bà: Vi Thị N - sinh năm 1964 (đã chết); Có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Hoàng Thị H - sinh năm 1977 (trú tại: xã N, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng); Con: Có 01 con sinh năm 2010;

Tiền sự; Tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng từ 10/02/2022 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 16 giờ 30 phút ngày 10/02/2022, Long Văn T (sinh năm 1986; trú tại: xóm Khuổi Hoi, xã N, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng) mang theo 01 (một) xilanh kim tiêm, 01 (một) lọ nước cất Novocain rồi đi nhờ xe mô tô một người đàn ông không quen biết từ nhà tại xóm Khuổi Hoi, xã N, huyện Hòa An ra thành phố Cao Bằng tìm mua ma túy để sử dụng. Thành đến khu vực Bến xe khách cũ thuộc tổ 2, phường S và hỏi mua Heroine với một người đàn ông lái xe ôm, khoảng 50 tuổi (không rõ tên địa chỉ). Người này đồng ý và chở T đến đầu cầu S (thuộc tổ 03, phường H) thì dừng xe, T đưa cho người đàn ông 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), người đàn ông đưa lại cho T 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong có 01 (một) gói giấy bạc màu vàng chứa Heroine. T cho gói ma túy vào túi áo bên phải rồi đi bộ theo hướng bờ sông để tìm nơi sử dụng ma túy thì hồi 17 giờ 10 phút cùng ngày bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố Cao Bằng bắt quả tang, thu giữ:

- 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong có 01 (một) gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột trong túi áo khoác bên phải, có khối lượng 0,10 gam (không phẩy một gam);

- 01 (một) xilanh kim tiêm chưa qua sử dụng;

- 01 (một) lọ Novocain chưa qua sử dụng;

Ngày 14/02/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 37 đối với vật chứng vụ án. Tại Bản kết luận giám định số 86/GĐMT ngày 22/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine”.

Hành vi của Long Văn T đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự .

Tại bản Cáo trạng số: 48/CT-VKSTP ngày 25/5/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Long Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015;

Tại phiên tòa, bị cáo Long Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và khai: Do bản thân nghiện ma túy nên đã mang theo xi lanh, kim tiêm và nước cất từ nhà đến bến xe khách thành phố tìm mua Heroine để sử dụng. Bị cáo hỏi mua và được một người đàn ông chạy xe ôm không quen biết đưa đến đầu cầu Sông Hiến và bán cho 01 gói Heroine giá 200.000đ, sau đó bị cáo đi dọc bờ sông tìm chỗ sử dụng thì bị cơ quan công an phát hiện, băt quả tang.

Bị cáo nhất trí với trọng lượng ma túy bị thu giữ và Bản kết luận giám định số 86/GĐMT ngày 22/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng cũng như các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, xác định bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo”; đề nghị áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để tuyên bị cáo Long Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo Long Văn T mức án từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy tang vật là ma túy bị thu giữ trong vụ án, 01 (một) xi lanh kim tiêm chưa qua sử dụng, 01 (một) lọ nước cất Novocain.

Về án phí và quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, bị cáo xin hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Long Văn T đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 16h30 ngày 10/02/2022 Long Văn T mang theo xi lanh, nước cất đến bến xe khách thành phố Cao Bằng hỏi mua heroine với một người không quen biết để sử dụng. Sau đó bị cáo đi cùng người đàn ông đó đến đầu cầu S và mua được 01 gói heroine giá 200.000đ, khi đang đi tìm chỗ sử dụng thì bị bắt quả tang với 0,1gam (không phẩy một gam) Heroine trong túi áo.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của chất ma túy, biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bản thân lệ thuộc chất ma túy nên bị cáo vẫn mua Heroine để sử dụng nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất gây nghiện; tiếp tay cho tệ nạn ma túy và làm phát sinh nhiều tội phạm khác nên cần xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Long Văn T là người sử dụng ma túy nên không coi là nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ vào nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ và khối lượng ma túy bị cáo phạm tội, thấy rằng cần áp dụng hình phạt tù để cải tạo giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy ở địa phương nói chung. Tuy nhiên, bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tội với khối lượng ma túy không lớn nên có căn cứ áp dụng mức khởi điểm của khung hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy loại Heroine: Trong vụ án này, Long Văn T khai mua với một người đàn ông đi xe ôm, không rõ tên, địa chỉ nên cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ; nếu đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với 01 (hai) phong bì niêm phong tang vật là ma túy bị thu giữ là chất nhà nước cấm lưu hành; 01 (một) xi lanh kim tiêm chưa qua sử dụng; 01 (một) lọ nước cất Novocain là dụng cụ và dược phẩm để sử dụng ma túy, cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Long Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

1. Tuyên bố: Bị cáo Long Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Long Văn T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt giam 10/02/2022.

2. Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số 86/GĐMT, hoàn mẫu sau giám định vụ Long Văn T có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 10/02/2022. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng. Kèm Kết luận giám định ma tuý số 86/GĐMT ngày 22/02/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng; 01 (một) xi lanh kim tiêm chưa qua sử dụng và 01 (một) lọ nước cất Novocain chưa qua sử dụng.

Xác nhận toàn bộ vật chứng nói trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 72 ngày 25/5/2022.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo Long Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ