vanban.org

Bản án 72/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước Tuyên án 13/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Thái Đình M phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Xử phạt bị cáo Thái Đình M 01 năm, 03 tháng tù (một năm, ba tháng tù), nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm, 06 tháng (hai năm, sáu tháng) kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Thái Đình M về cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thái Đình M - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Thái Đình M phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72 /2022/HSST
Ngày: 13/9/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thận;

Ông Trần Đức Hòa

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông An Bắc Lừng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2022/HSST ngày 09 tháng 8 năm 2022. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2022/QĐXXST – HS ngày 31 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Thái Đình M, sinh năm 1989, tại tỉnh Hà Tĩnh.

CCCD số: 042089018xxx cấp ngày 28/6/2021 Nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC&TTXH Bộ Công an.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã S, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Nơi cư trú: Thôn P, xã Pg, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Quang S và bà Trần Thị Đ; bị cáo có vợ và 01 người con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).

- Bị hại: Ngô Thị B1 (đã chết).

- Đại diện theo pháp luật của người bị hại:

1. Đỗ Văn T1, sinh năm 1996, (vắng mặt).

2. Đỗ Thị Thu T2, sinh năm 2003, (vắng mặt).

3. Đỗ Quốc T3, sinh năm 1973, (có mặt).

4. Ngô Đình T4, sinh năm 1948, (vắng mặt).

5. Đàm Thị M, sinh năm 1952, (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

- Người đại diện theo ủy của đại diện người bị hại: Đỗ Quốc T3, sinh năm 1973, (có mặt).

Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

- Bị đơn dân sự: Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại, dịch vụ bê tông PN

- Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu D1, sinh năm 1993, (có mặt).

Địa chỉ: KP Phú Tân, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài, tỉnh B1 Phước.

- Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Hữu D1: Ông Phan Thanh S, sinh năm 1993, (vắng mặt).

Địa chỉ: H – C, phường x, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thái Đình M có giấy phép lái xe hạng C, số 74013401xxxx do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 26/01/2013. Ngày 19/02/2022, khi tham gia giao thông M không sử dụng chất kích thích. Khoảng 10 giờ ngày 19/02/2022, M điều khiển xe ô tô biển số: 93H - 010.XXcủa Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ Bê tông PNtrên đường Quốc lộ 14 từ hướng thị trấn Đức Phong, huyện Bù Đăng đi tỉnh Đăk Nông. Khi M điều khiển xe đến Km 904+xxx đường Quốc lộ 14 thuộc thôn 2, xã Đoàn Kết, huyện Bù Đăng, tỉnh B1 Phước do M không chú ý quan sát và do không giữ khoảng cách an toàn, nên xe do M điều khiển va chạm với xe xe mô tô biển số: 93L1 - 342.XX do bà Ngô Thị B1 đang điều khiển chạy cùng chiều phía trước, làm bà B1 ngã xuống đường, thì bánh sau xe của M cán qua đầu bà B1 gây ra hậu quả là bà B1 tử vong tại chỗ. Do hoảng sợ, M điều khiển xe ô tô biển số: 93H - 010.XX rời khỏi hiện trường. Đến 14 giờ cùng ngày, M đến Công an huyện Bù Đăng đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận giám định số 49/2022/GĐPY ngày 23/02/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước, xác định: Ngô Thị B1 bị chấn thương sọ não gây vỡ xương sọ, giập não dẫn đến tử vong.

- Về vật chứng vụ án:

+ 01 xe ô tô biển số: 93H-010.67 đã được trả lại cho ông Phan Thanh S đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ Bê tông PN

+ 01 xe mô tô biển số: 93L1 - 342.XX đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Đỗ Văn T1.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị đơn dân sự đã bồi thường 300.000.000 đồng, đại diện bị hại không yêu cầu gì thêm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số 63/CT – VKS ngày 08/8/2022, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Thái Đình M về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Thái Đình M phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Thái Đình M từ 15 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo.

Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng

Bị cáo Thái Đình M thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Đại diện hợp pháp của người bị hại: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng án treo.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng và Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 19/02/2022, Thái Đình M có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe ô tô biển số: 93H - 010.XXtheo hướng thị trấn Đức Phong đi tỉnh Đăk Nông. Khi M điều khiển xe đến Km 904+700 đường Quốc lộ 14 thuộc thôn 2, xã Đoàn Kết, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước do M không giữ khoảng cách an toàn gây ra tai nạn giao thông với xe mô tô biển số: 93L1 - 342.XXdo bà Ngô Thị B1 điều khiển đang lưu thông cùng chiều phía trước làm bà B1 té xuống đường bánh trước xe của M cán qua đầu tử vong tại chỗ.

Như vậy, hành vi của bị cáo Thái Đình M đã vi phạm vào khoản 1 Điều 12, Luật giao thông đường bộ

Điều 12 Luật giao thông đường bộ

“1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo…”

Với hậu quả bà Ngô Thị B1 bị tử vong nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc gây thiệt hại cho người khác một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a) Làm chết người;

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng do ý thức chấp hành giao thông kém, chủ quan, cẩu thả nên đã vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, gây hậu quả rất nghiêm trọng, khiến ông Ngô Thị B1 tử vong, gây đau thương, mất mát lớn cho gia đình bị hại.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo đã ra đầu thú, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình và bị đơn dân sự bồi thường khắc phục hậu quả theo yêu cầu của đại diện gia đình người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại làm đơn bãi nại và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo nên đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo là phù hợp với mục đích của hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Tuy nhiên, xét thấy hành vi của bị cáo là lỗi vô ý. Nhằm tạo điều kiện cho bị cáo làm việc để khắc phục hậu quả, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

+ 01 xe ô tô biển số: 93H-010.67 đã được trả lại cho ông Phan Thanh S đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ Bê tông PN

+ 01 xe mô tô biển số: 93L1 - 342.XX đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Đỗ Văn T1.

Các phương tiện đã được trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại đã làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Thái Đình M phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Thái Đình M 01 năm, 03 tháng tù (một năm, ba tháng tù), nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm, 06 tháng (hai năm, sáu tháng) kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Thái Đình M về cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Thái Đình M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, đại diện gia đình bị hại, được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện gia đình bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại địa phương, nơi cư trú. Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Bình Phước;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- Viện kiểm sát ND tỉnh Bình Phước.

- Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;

- Công an tỉnh Bình Phước;

- VKSND huyện Bù Đăng;

- CCTHADS huyện Bù Đăng;

- Người tham gia tố tụng;

- Lưu HS.

Nguyễn Khắc Thanh

Cỡ chữ