- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2022/HS-ST Ngày: 19/09/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Biện Việt Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Phú Thạnh.
2. Ông Nguyễn Văn Quang.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký Toà án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Hoàng Kim Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 09 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 08 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 09 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN VĂN T, sinh năm 1999 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố 04, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Lao động biển; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Thanh (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Tùng, sinh năm: 1975; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 21/04/2022, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ của Công an thị xã L.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 21/4/2022, Công an phường Phước Hội bắt quả tang Nguyễn Văn T, sinh năm: 1999, nơi cư trú: Khu phố 04, phường P, thị xã L, đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại phòng trọ thuộc khu phố 07, phường Phước Hội, thị xã L. Thu giữ trong túi quần Jean màu xám, phía trước, bên phải, để dưới nền nhà trước cửa ra vào của phòng trọ có 01 bịch nilon màu trắng, một đầu có nhíp kéo, kích thước (04x07)cm, bên trong có 13 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, gồm 12 đoạn kích thước (01x2,2)cm, và 01 đoạn ống kích thước (1,6x2,5)cm, tất cả bên trong 13 đoạn ống nhựa đều chứa các hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn. Thu giữ dưới đất ngay góc phòng có 01 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, kích thước (01x2,2)cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn. Ngoài ra, Công an còn thu giữ 01 quần Jean màu xám và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tại góc phòng trọ của T. Sau đó, Công an phường Phước Hội chuyển hồ sơ cùng với tang vật đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã L xử lý theo quy định.
Ngày 22/4/2022, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L ra quyết định trưng cầu giám định đối với 14 đoạn ống nhựa chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M) thu giữ của Nguyễn Văn T. Tại bản Kết luận giám định số 418/KL-KTHS ngày 28/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 1,7649 gam là Methamphetamine.
Về nguồn gốc ma túy, Nguyễn Văn T khai nhận như sau: Vào khoảng 19 giờ ngày 20/4/2022, T đến khu vực xóm Xình thuộc phường Bình Tân, thị xã L mua của một đối tượng tên Lực (không rõ nhân thân lai lịch) 500.000 đồng ma túy đá về để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được 14 đoạn ống nhựa chứa ma túy đá, T đem về phòng trọ (thứ 4) mà T thuê tại dãy nhà trọ của bà Nguyễn Thị Thanh Hoàng thuộc khu phố 7, phường Phước Hội, thị xã L, T lấy 01 tép ra sử dụng một nửa, còn một nửa hàn kín lại và để ở dưới nền góc phòng bên phải. Vào ngày 21/4/2022, bạn gái T là Nguyễn Thị Kim Hồng, sinh năm: 2005, nơi cư trú: Khu phố 02, phường Phước Lộc, thị xã L và bạn của T là Nguyễn Văn Quyết, sinh năm: 2002, nơi cư trú: Khu phố 08, phường Phước Hội, thị xã L đến phòng trọ chơi với T. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21/4/2022, khi cả ba đang ở phòng của T thì có lực lượng Công an vào kiểm tra, thu giữ toàn bộ số ma túy T cất giấu.
Số vật chứng còn lại sau giám định gồm: 01 bịch nilon màu trắng và 14 đoạn ống nhựa màu trắng, đều đã cắt lấy mẫu cùng 1,7019 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 418 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 quần Jean màu xám. Tất cả vật chứng trên đã được chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L quản lý.
Tại bản cáo trạng số 67/CT-VKSLG-HS ngày 04 tháng 08 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân thị xã L đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 01 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L giữ quyền công tố, tranh luận và phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Điểm c khoản 01 Điều 249; Điểm s khoản 01, 02 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bịch nilon màu trắng và 14 đoạn ống nhựa màu trắng, đều đã cắt lấy mẫu cùng 1,7019 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 418 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 quần Jean màu xám là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị.
Đối với Nguyễn Văn Quyết và Nguyễn Thị Kim Hồng, quá trình điều tra xác định Quyết, Hồng không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của T nên không xem xét xử lý.
Đối với đối tượng tên Lực đã bán ma túy cho Nguyễn Văn T, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.
Tại phiên tòa bị cáo T xác định cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là không sai và không tranh luận gì và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thị xã L và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã L và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về những hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng.
Về căn cứ buộc tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và qua tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21/04/2022, Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 1,7649 gam Methamphetamine tại phòng trọ thuộc khu phố 07, phường Phước Hội, thị xã L nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an phường Phước Hội bắt quả tang, thu giữ tang vật. Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 01 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận đã truy tố đối với bị cáo T là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và cộng đồng xã hội, bị cáo cũng nhận thức được Methamphetamine là loại ma túy gây nghiện, nhà nước nghiêm cấm và nghiêm khắc xử lý đối với mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép. Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay tệ nạn ma túy ngày một gia tăng, gây ra những hậu quả, hệ lụy nguy hiểm cho xã hội nhưng bị cáo xem thường pháp luật, bất chấp hậu quả đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 01, 02 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo biết ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục những người khác biết tôn trọng pháp luật, tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.
Về xử lý vật chứng: 01 bịch nilon màu trắng và 14 đoạn ống nhựa màu trắng, đều đã cắt lấy mẫu cùng 1,7019 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 418 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 quần Jean màu xám là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại khoản 01 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 02 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 01 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Văn Quyết và Nguyễn Thị Kim Hồng, quá trình điều tra xác định Quyết, Hồng không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của T nên không xem xét xử lý là phù hợp
Đối với đối tượng tên Lực đã bán ma túy cho Nguyễn Văn T, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý nên Hội đồng xét xử không xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm c khoản 01 Điều 249; Điểm s khoản 01, 02 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 21/04/2022.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 bịch nilon màu trắng và 14 đoạn ống nhựa màu trắng, đều đã cắt lấy mẫu cùng 1,7019 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 418 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, quần Jean màu xám theo biên bản giao nhận, vật chứng ngày 05 tháng 08 năm 2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã L và Chi cục thi hành án dân sự thị xã L.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/09/2022).
| Nơi nhận: - VKSND thị xã L; - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Công an thị xã L; - Người tham gia tố tụng; - Chi cục thi hành án dân sự thị xã L; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Biện Việt Hùng |