- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 72/2022/HS-ST Ngày: 04 - 4 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: BàVũ Thị Nhung;
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Lò Thị Hiêng và ông Lò Văn Hoan;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Hồng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thắm- Kiểm sát viên.
Ngày 04tháng 4 năm 2022, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2022/TLST-HS ngày 17tháng 03 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: NguyễnVăn Q; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày 27 tháng 7 năm 1962tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú:Tổ dân phố 03, phường T, thành phố Đ, tỉnh Đ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc:Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nghỉ hưu; trình độ văn hóa:7/10; con ông: Nguyễn Văn D (đã chết) và bà Đào Thị C (đã chết); vợ: Võ Thị H; con: Có hai con đã thành niên; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Sử dụng ma túy; bị tạm giữ từ ngày18/12/2021, sau đó bị tạm giam cho đến nay - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 18/12/2021, tại bãi đỗ xe số 01 thuộc tổ dân phố 10, phường Thanh Trường, thành phố Điện Biên Phủ; khi bịCông an thành phố Điện Biên Phủ kiểm tra, bị cáo Nguyễn Văn Q đã thả từ tay trái xuống mặt đường một gói nilon màu trắng, bên trong có chứa các viên nén màu hồng; bị cáo khai nhận đó là Hồng phiến, bị cáo vừa đi xe đạp đến tại bãi đỗ xe số 01, mua của một người tên S với giá 100.000 đồng để sử dụng; trước đó bị cáo đã dùng điện thoại Nokia của bị cáo liên lạc với S và hẹn nhau tại đây để mua bán ma túy. Bị cáo không biết lai lịch người bán ma túy cho mình. Số Hồng phiến mua được bị cáo chưa sử dụng thì bị phát hiện, lập biên bản thu giữ toàn bộ vật chứng cùng điện thoại di động và xe đạp của bị cáo. Cơ quan điều tra sau đó đã trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động đã thu giữ.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túycủa mình như đã nêu trên.
2. Các vấn đề khác:
Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ các viên nén màu hồng thu giữ của bị cáo đi giám định. Bản kết luận giám định số56/GĐ-PC09 ngày 26/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu các viên nén màu hồnggửi giám định có khối lượng 0,3 gam; là chất ma túy loại Methamphetamine, nằm trong danh mục các chất ma túy theo số thứ tự 323, mục IIC, danh mục II Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ; hoàn lại 0,25 gam mẫu vật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về kết luận giám định nêu trên.
3. Cáo trạng số 26/CT-VKSTPĐBP ngày 16/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến15 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; vật chứng là ma túy còn lại tịch thu để hủy, tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc xe đạp bị cáo dùng vào việc phạm tội.
4. Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáotrong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để xác định: Bịcáo Nguyễn Văn Q đã có hành vi cất giữ trái phép 0,3 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng và đã bị Công an thành phố Điện Biên Phủ phát hiện bắt giữ và lập biên bản vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 18/12/2021 ở bãi đỗ xe số 1 tại tổ dân phố 10, phường Thanh Trường, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
Khoản 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
...c)...Methamphetaminecó khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điều luật đã viện dẫn trên.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng,giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, mà nguyên nhân là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sử dụng ma tuý trái phép; vì vậy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, để giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung. Bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bố mẹ bị cáo đều được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 51 BLHS.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, hình phạt Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là có cơ sở chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 BLHS thì: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo thì bị cáo đã nghỉ hưu, ngoài lương không có thu nhập nào khác, không có tài sản gì đáng kể, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng và các vấn đề khác:Số ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành, tịch thu để hủy cùng những vật dùng để gói ma túy không còn giá trị. Chiếc xe đạp bị cáo dùng đi mua ma túy tịch thu sung ngân sách nhà nước. Bị cáo không quen biết người bán ma túy cho mình, nên không có cơ sở làm rõ. Riêng chiếc điện thoại di động bị cáo khai đã dùng để liên lạc mua ma túy, ngoài lời khai của bị cáo không có căn cứ khác để chứng minh việc này, vì vậy cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo theo quy định của pháp luật, nên HĐXX không đề cập xử lý.
Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm a, c khoản 1 Điều 47của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 và điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/12/2021.
3. Vật chứng:
Tịch thu để hủy0,25 gam Methamphetamine và 01 mảnh nilon;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe đạp khung có chữ AGIOM của bị cáo.
(theoBiên bản giao nhận vật chứng ngày18 tháng 3 năm 2022 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Cơ quan cảnh sát điều tra).
4. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (04/4/2022).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TP.ĐBP; - VKSND tỉnh ĐB; - CQ CSĐT công an TP.ĐBP; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Nhà tạm giữ CATP; - Đội HSNV Công an TP ĐBP; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - HS Thi hành án HS; - Chi cục THADS TPĐBP; - TAND tỉnh ĐB; - Lưu hồ sơ; -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhung |