vanban.org

Bản án 72/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 12/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy dấu niêm phong số 190MT/PC09 chứa ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao bì của mẫu vật theo biên bản giao nhận vật chứng, …

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy dấu niêm phong số 190MT/PC09 chứa ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao bì của mẫu vật theo biên bản giao nhận vật chứng, …
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2022/HS-ST
Ngày 12-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tư

Bà Hà Thị Mão.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Thuỷ - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đình Hưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Vũ Đức M, sinh ngày 22 tháng 02 năm 1976 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: quận N, thành phố H; nơi tạm trú: N1, phường Đ, quận N, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đức Khvà bà Hoàng Thị T; có vợ là Nguyễn M Ph và 02 con; tiền án: Có 02 tiền án.

+ Bản án số 126/HS-ST ngày 14/10/1992 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản (tài sản trộm cắp là 01 máy bơm KAMAZ bán được 293.000 đồng, nhưng không định giá tài sản), được xóa án tích.

+ Bản án số 67/HS-ST ngày 19/6/1996 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, xử phạt 12 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân (tài sản chiếm đoạt là 01 xe đạp mini Nhật cũ bán được 850.000 đồng, nhưng không định giá tài sản), được xóa án tích.

Tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 05/5/2022, đến ngày 09/5/2022 chuyển tạm giam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 04/5/2022, Vũ Đức M đi bộ ra cầu vượt Lạch Tray bắt xe ôm đi đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng để mua ma túy đá. Đến nơi, M mua của người đàn ông không quen biết 200.000 đồng ma túy được 01 gói nilon kích thước 1cm x 2cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (ma túy đá). M cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi bắt xe ôm đi về khu vực cầu vượt Lạch Tray ngồi uống nước. Đến khoảng 01 giờ ngày 05/5/2022, M đi tìm nơi sử dụng ma túy, khi M đi đến trước nhà số 282 đường Lạch Tray, phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, thì bị tổ công tác của Công an phường Đồng Quốc Bình kiểm tra, M sợ nên ném gói ma túy xuống đất (cạnh chỗ đứng), lực lượng Công an thu giữ tại chỗ 01 gói nilon kích thước 1cm x 2cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu số 1), rồi đưa M về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng để giám định.

Kết quả khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Vũ Đức M tại nhà số N1, phường Đ, quận N, H, không phát hiện đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.

Tại Kết luận giám định số 190/KL-KTHS(MT) ngày 09/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Chất tinh thể màu trắng (mẫu số 1) thu giữ của Vũ Đức M là ma túy, có khối lượng 0,26 gam, là loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra Vũ Đức M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên và khai: M không nghiện ma túy, do chân bị đau nên M nảy sinh ý định mua ma túy đá về để sử dụng. Tiền mua ma túy do M lao động mà có. M không biết lai lịch, địa chỉ của người bán ma túy cho M và người xe ôm chở M đi mua ma túy.

Lời khai nhận tội nêu trên của Vũ Đức M phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, sơ đồ hiện trường, lời khai của những người chứng kiến, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Vật chứng: 01 túi nilon bên trong chứa khối lượng 0,26 gam Methamphetamine. Cơ quan giám định lấy ra 0,12 gam để giám định, còn lại 0,14 gam và toàn bộ vỏ bao bì của mẫu vật được niêm phong lại trong 01 bì giấy dấu niêm phong số 190MT/PC09.

Tại bản Cáo trạng số 83/CT-VKSNQ ngày 14/7/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Vũ Đức M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng, phù hợp với hồ sơ vụ án.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy dấu niêm phong số 190MT/PC09 chứa ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao bì của mẫu vật theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Vũ Đức M và “người xe ôm” chở bị cáo M đi mua ma túy. Cơ quan điều tra không làm rõ được lai lịch, địa chỉ của những người này nên không có cơ sở để xử lý.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

+ Về căn cứ xác định bị cáo có tội:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, lời khai thể hiện:

Khoảng 01 giờ 05 phút ngày 05/5/2022, Vũ Đức M bị bắt qủa tang khi đang cất giữ trái phép 0,26 gam ma túy Methamphetamine trên địa bàn phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

+ Về nhân thân:

Bị cáo đã có 02 tiền án đã được xóa án tích nhưng với lần phạm tội này cũng cần đánh giá bị cáo là người có nhân thân xấu để xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo.

+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

+ Về áp dụng hình phạt chính đối với các bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội. Do vậy cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ một thời gian đủ để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung theo quy định khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

+ Về áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo:

Xét bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định, bản thân bị cáo sức khoẻ yếu do từng bị tai nạn gãy chân nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

+ Về xử lý vật chứng:

Do chất ma túy là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy dấu niêm phong số 190MT/PC09 chứa ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao bì của mẫu vật theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo và “người xe ôm” chở bị cáo đi mua ma túy. Cơ quan điều tra không làm rõ được lai lịch, địa chỉ của những người này nên không có cơ sở để xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết..

- Về án phí:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Đức M 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 05 tháng 5 năm 2022.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy dấu niêm phong số 190MT/PC09 chứa ma tuý còn lại sau giám định và vỏ bao bì của mẫu vật theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Đức M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ