- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2022/HS-ST Ngày: 18-7-2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Việt Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Quang Hùng;
2. Ông Quàng Văn Tại.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Lượng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Vân, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn H; tên gọi khác: Không.
Sinh ngày: 01/6/1993, tại: Xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản C, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T, sinh năm 1964 và con bà Lò Thị S, sinh năm 1964; bị cáo chung sống như vợ chồng với Quàng Thị G, sinh năm 2000 và có 01 người con chung sinh năm 2017; tiền án: Không, tiền sự: Bị cáo có 01 tiền sự; nhân thân: Bị cáo chưa bị xét xử lần nào, ngày 25/9/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời gian 15 tháng, ngày 04/10/2018 Lò Văn H bỏ trốn, ngày 10/7/2019 bị bắt đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà, ngày 09/9/2020 chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/3/2022, tạm giam ngày 03/4/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Thúy An, Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 25/3/2022 bị cáo Lò Văn H đi nhờ xe máy của một người không quen biết từ bản C, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên đến trung tâm xã B, huyện M, tỉnh Điện Biên để đón xe khách đi Hải Phòng làm thuê. Do bản thân nghiện ma túy nên bị cáo nảy sinh ý định mua Heroine để sử dụng. Trong lúc đang đứng đợi xe khách bị cáo đã mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu trắng với giá 50.000đ (năm mươi nghìn đồng). Mua được Heroine bị cáo đi xuống gầm cầu B dùng móng tay chia số Heroine vừa mua thành 02 phần rồi lấy mảnh nilon màu trắng có sẵn và nhặt mảnh nilon màu hồng gần đó gói lại và cho cả 02 gói Heroine vào trong bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long rồi cất giấu trong túi quần đang mặc. Khoảng 19 giờ cùng ngày bị cáo bắt được xe khách Hùng Long, biển kiểm soát 15B-000.00, chạy tuyến Điện Biên - Hải Phòng, bị cáo nằm ở giường số 5, tầng 2, hàng ghế giữa. Khi xe khách đi đến vực bản L, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên vào hồi 20 giờ cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo phối hợp với tổ công tác theo Kế hoạch 1266 Công an tỉnh Điện Biên phát hiện bắt quả tang, thu giữ của bị cáo Lò Văn H 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long bên trong có 02 gói Heroine được gói bằng nilon trắng, màu hồng; mục đích mua Heroine để sử dụng. Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo tổng khối lượng chất ma túy là 0,18 gam Heroine, đã trích 0,09 gam làm mẫu vật gửi giám định (không hoàn lại mẫu vật), vật chứng còn lại 0,09 gam Heroine; tạm giữ 01 thẻ căn cước công dân mang tên Lò Văn H.
Tại bản Kết luận giám định số: 474/KL-KTHS ngày 03/4/2022 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Điện Biên kết luận: “Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn H là 0,18 gam. Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn H gửi giám định là chất ma tuý: Loại Heroine”.
Tại bản Cáo trạng số: 55/CT-VKSTG ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo Lò Văn H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan Điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Không phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điểm a, c Khoản 2, Điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 0,09 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; đối với 01 thẻ căn cước công dân mang tên Lò Văn H, số 0110000070000, cấp ngày 09/5/2021, nơi cấp Cục Cảnh sát QLHC về TTXH, không liên quan đến hành vi phạm tội, đề nghị trả lại cho bị cáo. Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo: Người bào chữa nhất trí với bản Cáo trạng, Luận tội của Kiểm sát viên xét xử bị cáo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; nhất trí với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không phạt bổ sung bằng tiền và miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của bị cáo: Hồi 20 giờ 00 phút ngày 25/3/2022, tại Quốc lộ 0 thuộc bản L, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, bị cáo bị bắt quả tang, bị thu giữ 02 gói Heroine có khối lượng 0,18 gam, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Với hành vi và khối lượng ma túy bị thu giữ thì bị cáo đã phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
Về tính chất và mức độ của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo trực tiếp, tiếp tay cho những người chuyên mua bán trái phép các chất ma túy tồn tại và phát triển; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm .... làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Tuần Giáo nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Tội phạm bị cáo thực hiện là tội phạm nghiêm trọng. Vì vậy hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, mới có tác dụng phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo từ nhỏ sống phụ thuộc vào gia đình tại xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên, được đi học đến lớp 9 thì nghỉ học ở nhà lao động sản xuất. Năm 2014 bị cáo nghiện chất ma túy. Năm 2016 bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Quàng Thị G và có 01 người con chung. Ngày 25/9/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời gian 15 tháng, ngày 04/10/2018 bị cáo bỏ trốn chưa thi hành, ngày 10/7/2019 bị bắt đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà, ngày 09/9/2020 chấp hành xong trở về địa phương sinh sống đến nay chưa được xóa tiền sự. Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật đồng thời giúp bị cáo cai nghiện chất ma túy.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Xét thấy nghề nghiệp của bị cáo là sản xuất nông nghiệp, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên không có khả năng thi hành. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Kiểm sát viên đề nghị: Xét mức hình phạt Kiểm sát viên đã đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ, nhân thân và hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Người bào chữa đề nghị đối với bị cáo: Xét thấy mức hình phạt người bào chữa đề nghị cho bị cáo phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra bị cáo khai không biết tên, địa chỉ của người đàn ông đó. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo không có căn cứ để điều tra làm rõ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 0,09 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng cần tịch thu và tiêu hủy; đối với 01 thẻ căn cước công dân mang tên Lò Văn H, số 0110000070000, cấp ngày 09/5/2021, nơi cấp Cục Cảnh sát QLHC về TTXH, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi và các quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan đã thực hiện đều hợp pháp và được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, nhưng bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đã có đơn và tại phiên tòa xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 25/3/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điểm a, c Khoản 2, Điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì niêmphong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 0,09 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh nilon màu hồng và 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng; trả lại cho bị cáo 01 thẻ căn cước công dân mang tên Lò Văn H, số 0110000070000, cấp ngày 09/5/2021, nơi cấp Cục Cảnh sát QLHC về TTXH theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo.
3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 18/7/2022).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Phòng HCTP, Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Tuần Giáo; - Công an huyện Tuần Giáo (03 bản); - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo; - TTTGPL Nhà nước tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Việt Hƣơng |