vanban.org

Bản án 72/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 03/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trương Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án ngày 03/11/2022 Giao bị cáo Trương Văn T cho Ủy ban nhân dân phường 9 thành phố Vĩnh Long để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRƯƠNG VĂN TH - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2022/HS - ST
Ngày: 03/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ - TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bé T

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Hữu P

2. Ông Nguyễn Văn T

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn P - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ tham gia phiên toà: Ông Dương Vũ Trường G - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2022/TLST - HS ngày 09 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2022/QĐXXST - HS ngày 28 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo: Trương Văn T, sinh năm 1967.

Nơi cư trú: đường P, khóm A, phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Tất L, sinh năm 1940 (chết) và bà Phạm Thị Ngọc C, sinh năm 1941 (sống); anh, chị, em ruột có 08 người (lớn nhất sinh năm 1964, nhỏ nhất sinh năm 1980); Vợ là Vũ Thị Ngọc H, sinh năm 1967; con: có 02 người ( lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2005).

Tiền án, tiền sự: Không

Ngày 16/04/2022 gây tai nạn giao thông đường bộ làm Nguyễn Trần Kim N tử vong. Ngày 08/06/2022 bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can, cho tại ngoại điều tra (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Nguyễn Trần Kim N, sinh năm 2012 (chết)

- Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Trần Kim N:

1/ Bà Trần Thị Kim C, sinh năm 1982 (mẹ ruột của bị hại)

Địa chỉ: ấp P, xã T, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long.

2/ Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1979 (cha ruột của bị hại)

Địa chỉ: ấp P, xã T, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Kim C là ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp P, xã T, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long. Theo văn bản ủy quyền ngày ngày 04/5/2022 (có đơn xin mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Tổng Công ty bảo hiểm B - Công ty bảo hiểm B Vĩnh Long.

Địa chỉ: Đinh Tiên H, phường X, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long

Người đại diện: Ông La Trí Đ – Phó giám đốc (vắng mặt)

Công ty TNHH Tân Vạn L

Người đại diện: Ông Nguyễn Văn N – Giám đốc

Địa chỉ: Nguyễn Thị Minh K, phường X, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn N là ông Nguyễn Trí Đ, sinh 1981. Chức vụ: Phó giám đốc,

Địa chỉ: ấp T, xã H, huyện H, tỉnh Vĩnh Long. Theo văn bản ủy quyền ngày ngày 26/4/2022 (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 16/4/2022 Trương Văn T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 64H-000.95 nhãn hiệu KAMAZ, tải trọng 15.000 kg đi từ huyện Tam Bình đến Công ty Tân Vạn L, thuộc ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Vĩnh Long

Thanh điều khiển xe trên Quốc lộ 1A hướng Cần Thơ – Vĩnh Long. Đến khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô tải đến đoạn Km 2064+500 thuộc ấp H, xã P, huyện H. Thanh điều khiển xe trên làn đường thứ 1, làn đường cặp dãy phân cách cứng. Lúc này do trời mưa lớn, nước ngập cao nên T không nhìn thấy được vạch phân chia làn đường cụ thể giữa làn đường thứ 1 với làn đường thứ 2. T điều khiển xe chạy thẳng về trước mà không quan sát gương chiếu hậu bên phải nên để xảy ra va chạm với xe gắn máy biển kiểm soát 64FC- 2292 do chị Trần Thị Kim C, sinh năm 1982 điều khiển chở người ngồi sau là Nguyễn Trần Kim N, sinh năm 2012 đang lưu thông cùng chiều ở làn đường thứ 2.

Hậu quả xe gắn máy ngã xuống đường Nguyễn Trần Kim N được đưa đi cấp cứu và tử vong tại bệnh viện đa khoa khu vực xã Hòa Phú. Chị Trần Thị Kim C bị thương nhẹ.

Kết luận giám định pháp y tử thi số 21/2022/GĐHS ngày 20/04/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Long kết luận nguyên nhân tử vong của Nguyễn Trần Kim N do chấn thương sọ não.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, có dãy phân cách cứng cố định ở giữa. Mặt đường phương tiện lưu thông hướng Cần Thơ – Vĩnh Long rộng 9m, có 3 làn xe lưu thông. Hiện trường đo vẽ vào lề phải hướng Cần Thơ – Vĩnh Long. Tâm vùng va chạm đo vào lề là 5,34m

Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do Trương Văn T điều khiển xe 64H- 000.95 thiếu chú ý quan sát vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Bị hại cũng có một phần lỗi là lưu thông không đúng làn đường, tuy nhiên lỗi chính vẫn là bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bồi thường số tiền là 110.000.000 đồng. Bị cáo đã khắc phục xong. Đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại cáo trạng số 72/CT-VKSLH ngày 09/9/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đã truy tố Trương Văn T về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Long Hồ thực hiện quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị:

- Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trương Văn T mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) đến 04 (bốn) năm.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện bên bị hại đã thỏa thuận, bồi thường xong cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng), đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tuyên trả lại cho bị cáo Trương Văn T 01 giấy phép lái xe hạng C số 860858000001 cấp ngày 02/7/2019 hiện Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Long Hồ đang quản lý (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/9/2022).

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trương Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo trình bày: Bị cáo Trương Văn T thống nhất với bản cáo trạng và bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát.

Ý kiến của đại diện hợp pháp của bị hại: Tại đơn xin vắng mặt. Bị cáo đã khắc phục, bồi thường xong cho gia đình của bị hại số tiền 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng), đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm hình sự: yêu cầu cho bị cáo mức án thấp nhất là cải tạo không giam giữ để bị cáo tiếp tục làm ăn chăm lo cho gia đình.

Ý kiến của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: đại diện cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Tân Vạn L đã chi khắc phục thay cho bị cáo T số tiền 110.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên cũng như chi phí sửa chửa xe ô tô

Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở ngoài xã hội phụ giúp cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung Cáo trạng đã nêu.

Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 16/4/2022 T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 64H-000.95 lưu thông trên quốc lộ 1A hướng Cần Thơ – Vĩnh Long. Khi đến khu vực ấp H, xã P, huyện H. T điều khiển xe không quan sát các xe đi bên phải đang di chuyển cùng chiều với xe của T để xảy ra va chạm với xe gắn máy biển kiểm soát 64FC-2292 do Trần Thị Kim C điều khiển chở Nguyễn Trần Kim N. Hậu quả Nguyễn Trần Kim N được đưa đi cấp cứu và tử vong tại bệnh viện đa khoa khu vực Hòa Phú.

Lời trình bày và khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khách quan kết luận bị cáo Trương Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm vào các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ. Tuy bị hại cũng có một phần lỗi là lưu thông không đúng làn đường, nhưng xét nguyên nhân lỗi chính là do bị cáo Trương Văn T trực tiếp điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 64H-000.95 thiếu chú ý quan sát dẫn đến hậu quả làm cho Nguyễn Trần Kim N tử vong, chị Trần Thị Kim C bị thương. Hành vi của bị cáo Trương Văn T đã vi phạm tại khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, nhưng khi hậu quả xảy ra do bị cáo không quan sát gương chiếu hậu bên phải. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự do đó cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long là có căn cứ và đúng pháp luật. Bị cáo là người có lỗi chính trong vụ tai nạn dẫn đến bị hại tử vong.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo như sau:

Tình tiết tăng nặng: không

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục, bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng). Trong đó tiền hàng gương mai táng là 50.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần cho gia đình là 60.000.000 đồng, đại điện hợp pháp của bị hại xin cho bị cáo mức án thấp nhất là cải tạo không giam giữ để bị cáo tiếp tục làm ăn chăm lo cho gia đình. Về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bản thân bị cáo từng tham gia nghĩa vụ quân sự từ năm 1985 đến 1992 thì phục viên về nhà.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã khắc phục, bồi thường xong cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng), đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo Trương Văn T 01 giấy phép lái xe hạng C số 860858000001 cấp ngày 02/7/2019 hiện Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Long Hồ đang quản lý (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/9/2022).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trương Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trương Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án ngày 03/11/2022

Giao bị cáo Trương Văn T cho Ủy ban nhân dân phường 9 thành phố Vĩnh Long để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã khắc phục, bồi thường xong cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng). Trong đó tiền hàng gương mai táng là 50.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần cho gia đình là 60.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Trương Văn T 01 giấy phép lái xe hạng C số 860858000001 cấp ngày 02/7/2019 hiện Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Long Hồ đang quản lý (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/9/2022).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trương Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ