- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Như Đ tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Như Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2022/HS-ST Ngày: 09-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Phông;
Ông Đỗ Việt Hùng.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2022/ QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Như Đ, sinh năm 1979; nơi sinh và nơi cư trú: xóm 12 xã NL, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12;dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Ch; sinh năm 1947 và bà Trần Thị B, sinh năm 1952 ; vợ Nguyễn Thị Hồng Th, sinh năm 1986; có 03 con,lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2014; tiền án,tiền sự: Không; bị tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 30/07/2022 cho đến nay.
- Người làm chứng:
Chị Nguyễn Thị Hồng Th, sinh năm 1986; có mặt.
- Người chứng kiến:
1. Ông Trần Đình Nh, sinh năm 1967; Vắng mặt.
2. Anh Trần Duy Nh1, sinh năm 1984; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 30/7/2022, Trần Như Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki HAYATE màu đen, biển kiểm soát 30K5- 0504 từ nhà ở xóm 12, xã Nghĩa Lâm, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định đến khu vực đường liên xã thuộc xóm 1, xã Nghĩa Lạc, huyện Nghĩa Hưng gặp và mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ 01 gói Heroin với giá 500.000 đồng. Sau đó, Định cầm gói ma túy vừa mua cho vào túi áo bên trái rồi điều khiển xe đi đến bến phà Ninh Mỹ sang khu vực xã Hải Giang, huyện Hải Hậu để tìm địa điểm sử dụng ma túy. Khi Đ vừa đi qua phà Ninh Mỹ đến khu vực xóm Mỹ Thọ, xã Hải Giang thì bị tổ công tác Công an huyện Hải Hậu phối hợp với Công an xã Hải Giang phát hiện bắt quả tang vào lúc 16 giờ 50 phút cùng ngày, thu giữ của Định 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng,bên trong có chứa 01 gói ni lông màu trắng, bên trong gói ni lông có 01 lớp giấy bạc màu vàng chứa chất bột dạng cục màu trắng. Ngoài ra, còn thu giữ của Định một xe mô tônhãn hiệu Suzuki HAYATE màu đen, BKS 30K5-0504.
Tại bản kết luận giám định số 1120/KL-KTHS ngày 01-8-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong một gói giấy bạc màu vàng, bên ngoài bọc ni nông màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định đều là ma túy, loại Heroine. Khối lượng mẫu M là: 0,136 gam.
Bản Cáo trạng số 69/CT-VKSHH ngày 11-10-2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Trần Như Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung vụ án đã nêu ở trên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Như Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Như Đ từ 18 tháng đến 24 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng của vụ án đã thu giữ trong quá trình điều tra theo quy định pháp luật.
Trong phần tranh luận: Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi vi phạm của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáokhông có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp lời khai người làm chứng, người chứng kiến, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định cùng các tài liệu khác đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 30/7/2022 tại khu vực xóm Mỹ Thọ, xã Hải Giang, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, tổ Công tác Công an huyện Hải Hậu phối hợp với Công an xã Hải Giang phát hiện bắt quả tang Trần Như Đ đang có hành vi cất giấu trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,136 gam để sử dụng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ để sử dụng. Do đó cần phải xử lý theo pháp luật hình sự để trừng trị, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn; thái độ ăn năn, hối lỗi. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là ông Trần Văn Ch được Nhà nước tặng thưởng Huân chương sỹ vẻ vang và Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Tuy nhiên, theo lời khai của bị cáo cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Do đó, không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 gói ma túy, sau khi giám định xác định là Heroine. Xét đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 30K5-0504 là tài sản của chị Nguyễn Thị Hồng Th, vợ bị cáo, chị Thắm không biết Đ sử dụng để mua ma túy nhưng không có Giấy phép đăng ký xe nên Cơ quan điều tra tách ra để xác minh xử lý sau là phù hợp.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo vào ngày 30-7-2022 khoảng 40 tuổi, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xác minh xử lý.
Về án phí: Bị cáo Trần Như Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Như Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Như Đ 18 (mười tám ) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30- 07-2022.
2.Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Heroine trong 01 phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 1120/GĐKTHS ngày 01/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định.
(Các vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Trần Như Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4.Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định: - SởTư pháp tỉnh Nam Định: - VKSND huyện: - Công an huyện: - Chi cục THADS: - UBND xã Nghĩa Lâm: - Bịcáo: 01 bản; - Lưu: 01 bản; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TO PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hằng |