vanban.org

Bản án 72/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 08/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Huyền Tr (M) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Huyền Tr (M) 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày 28/7/2022. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Huyền Tr - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Huyền Tr (M) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2022/HS-ST
Ngày 08-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lâm Thúy Liễu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Linh

2. Ông Thái Văn Lộc

- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Nguyên Phượng là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: ông Võ Hoàng Nhân, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Huyền Tr (M), sinh năm 1989 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chổ ở hiện nay: khu phố A, phường B, thành phố Tây N, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị M; bị cáo có chồng nhưng không đăng ký kết hôn và hiện không còn sống chung; bị cáo có 01 người con; tiền án: không có; tiền sự: ngày 17/4/2022, Công an xã Thái B, huyện Châu Th, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 51/QĐ-XPHC xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, ngày 20/4/2022 bị cáo nộp phạt

Bị cáo bị tạm giữ t ngày 28/7/2022, chuyển tạm giam t ngày 03/8/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ 45 phút ngày 28/7/2022, tại khu vực ấp Bình Ph, xã Thái B, huyện Châu Th, tỉnh Tây Ninh, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Châu Thành kết hợp với Công an xã Thái Bình tiến hành kiểm tra bắt quả tang Nguyễn Thị Huyền Tr đang tàng trữ trái phép chất ma túy trong người. Thu giữ trong bàn tay trái của Tr 01 bịch nylon hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng được niêm phong theo quy định (ký hiệu M) và một số vật chứng liên quan.

Quá trình điều tra xác định: Vào ngày 26/7/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Thị Huyền Tr đến khu vực Mũi Tàu thuộc phường 1, thành phố Tây Ninh gặp người đàn ông tên Phong (không rõ họ tên địa chỉ) mua 01 bịch ma túy với số tiền 300.000 đồng đem về sử dụng. Sau khi mua được ma túy, Tr đem về nhà mình tại khu phố 3, phường 1, thành phố Tây Ninh, lấy 01 ít ma túy ra sử dụng một mình, số ma túy còn lại trong bịch ny lon thì hàn kín cất giấu. Đến ngày 28/7/2022, Tr điều khiển xe mô tô biển số 70F1-035.98 chạy lên huyện Châu Thành để rước con nuôi, khi đi Tr có mang theo 01 bịch ma túy còn lại để tiếp tục sử dụng, khi đang chạy đến khu vực ấp Bình Phong, xã Thái Bình, huyện Châu Thành thì bị phát hiện bắt quả tang.

Tại Bản kết luận giám định số 907/KL-KTHS ngày 31/7/2022 của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu thu giữ, ký hiệu M gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,6214 gam.

Tài liệu, đồ vật thu giữ:

- 01 bì thư được niêm phong ghi vụ số 907/KL-KTHS có dấu tròn đỏ của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý giám định Tạ Minh Phong bên trong có chứa ma túy.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy J4+, màu hồng, số Imei 1 (khe 1): 355021100532495, số Imei 2 (khe 2): 355022100532493 (đã qua sử dụng);

- 01 khẩu Tr y tế màu xanh (đã qua sử dụng);

- 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín ba đầu, một đầu rỗng bên trong không có gì.

- 01 xe mô tô biển số 70F1- 035.98 của chị Lê Thị Kim Thoa: đã trả lại cho chủ sở hữu.

Bản Cáo trạng số 61/CT-VKSCT ngày 12 tháng 8 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Huyền Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự .

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Quan điểm của Viện kiểm sát: đại diện Viện kiểm sát nhân dân trong phần tranh luận giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Huyền Tr t 01 đến 02 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày 28/7/2022, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, Kết luận giám định có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận ngày 28/7/2022, tại ấp Bình Phong, xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Thị Huyền Tr có hành vi cất giấu trái phép 0.6214 gam chất ma túy loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân nên có đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Sử dụng ma túy trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân người sử dụng, đồng thời cũng là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn trong xã hội. Bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố ý phạm tội nên cần có hình phạt nghiêm để răn đe, giáo dục, phòng ng a và đấu tranh chống tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng tuy nhiên lại có nhân thân xấu, có tiền sự liên quan đến ma túy nên cần cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội không có giá trị, vật chứng cấm tàng trữ, cụ thể: 01 bì thư được niêm phong ghi vụ số 907/KL-KTHS có dấu tròn đỏ của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý giám định Tạ Minh Phong bên trong có chứa ma túy; 01 khẩu Tr y tế màu xanh (đã qua sử dụng); 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín ba đầu, một đầu rỗng bên trong không có gì.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy J4+, màu hồng, số Imei 1 (khe 1): 355021100532495, số Imei 2 (khe 2): 355022100532493 (đã qua sử dụng) là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Đối với chị Lê Thị Kim Th là chủ sở hữu xe mô tô biển số 70F1- 035.98 do không biết bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội nên không xem xét xử lý.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo do không xác định được nhân thân, địa chỉ nên Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Huyền Tr (M) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Huyền Tr (M) 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày 28/7/2022.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong ghi vụ số 907/KL-KTHS có dấu tròn đỏ của Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý giám định Tạ Minh Phong bên trong có chứa ma túy; 01 khẩu Tr y tế màu xanh (đã qua sử dụng); 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín ba đầu, một đầu rỗng bên trong không có gì.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy J4+, màu hồng, số Imei 1 (khe 1): 355021100532495, số Imei 2 (khe 2): 355022100532493 (đã qua sử dụng).

3. Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ