vanban.org

Bản án 72/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lý Thị Tố Q ly hôn với anh Lê Văn T.

Về con chung: Không có. Tài sản chung, nợ chung: Không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lý Thị Tố Q ly hôn với anh Lê Văn T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 72 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 6 - 2022
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – BẾN TRE

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Lâm

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Vân

2. Bà Huỳnh Thị Bích Vân

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Vân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Dương Thy Trúc Phương – Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 195/2022/TLST - HNGĐ ngày 18/3/2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09/5/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2022/QĐST–HNGĐ ngày 31/5/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lý Thị Tố Q, sinh năm 2000 (vắng mặt – có đơn)

Địa chỉ: ấp B, xã M, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp A, trị trấn B, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lý Thị Tố Q trình bày:

Chị và anh Lê Văn T cưới nhau năm 2020 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND trị trấn B, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre ngày 25/8/2020. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh T không lo làm ăn mà thường xuyên tụ tập bạn bè nhậu nhẹt, đặc biệt chị phát hiện anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, lúc chưa uống rượu chị hỏi thì anh T không thừa nhận nhưng khi nhậu say sỉn thì anh T thừa nhận. Mâu thuẫn của vợ chồng, mẹ anh T có biết và nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh T không nghe, không sửa đổi. Chị và anh T đã ly thân cách nay khoảng nửa năm, trong thời gian ly thân lúc đầu thì hai bên có liên lạc nhưng sau đó thì không liên lạc nữa. Nay chị nhận thấy không muốn tiếp tục cuộc sống hôn nhân với anh T nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Không có

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Lê Văn T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa xét xử nên không có lời trình bày.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri trình bày quan điểm:

- Về thủ tục: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS; bị đơn vắng mặt không lý do trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa xét xử nên chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 72 BLTTDS.

- Về nội dung: Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu của chị Lý Thị Tố Q được ly hôn với anh Lê Văn T; Về con chung: Không có; Về tài sản chung: Không có; Nợ chung: Không có đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục: Bị đơn anh Lê Văn T được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử nhưng anh T vắng mặt không lý do. Nguyên đơn chị Lý Thị Tố Q có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Q và anh T.

Về nội dung:

[1] Về hôn nhân: Chị Lý Thị Tố Q và anh Lê Văn T cưới nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân trị trấn B, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre ngày 25/8/2020 nên là hôn nhân hợp pháp. Nhận thấy, để cuộc hôn nhân được hạnh phúc thì vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau nhưng anh T không làm được dẫn đến mất hạnh phúc vợ chồng. Anh T biết việc chị Q yêu cầu ly hôn với anh nhưng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Ba Tri đã nhiều lần tiến hành tổ chức phiên hòa giải để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do, cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến muốn hàn gắn tình cảm với chị Q. Điều đó thể hiện anh T đã không có thiện chí muốn vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị Q và anh T là trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị Q với anh T là có căn cứ phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về con chung: Không có.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) chị Lý Thị Tố Q phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lý Thị Tố Q ly hôn với anh Lê Văn T.

2. Về con chung: Không có.

3. Tài sản chung, nợ chung: Không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) chị Lý Thị Tố Q phải nộp và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003912 ngày 07 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Q đã nộp xong.

Chị Lý Thị Tố Q, anh Lê Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ