vanban.org

Bản án 72/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Ph đối với bị đơn ông Dương Hoàng Th về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim Ph được ly hôn với ông Dương Hoàng Th. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ KIM PH- DƯƠNG HOÀNG TH"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 72/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 26/9/2022.
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thiện;

Bà Nguyễn Thị Túy Phượng.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 580/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 35/2022/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Ph, sinh năm 1975; nơi thường trú: Số 139/1B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Bị đơn: Ông Dương Hoàng Th, sinh năm 1977; nơi thường trú: Số 304, khu phố P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Ph trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Khoảng năm 1996 bà Nguyễn Thị Kim Ph và ông Dương Hoàng Th tự nguyện tìm hiểu, sau đó tiến đến hôn nhân, nhưng đến năm 2000 thì ly hôn, sau đó đến năm 2006 đăng ký kết hôn lại tại UBND xã (nay là phường) Đ, huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương, theo giấy chứng nhận kết hôn số 49 ngày 19 tháng 7 năm 2006. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc. Tuy nhiên, sau một thời gian chung sống vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, sống không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Phượng yêu cầu được ly hôn với ông Thoại.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Dương Hoàng Kh, sinh ngày 24 tháng 9 năm 1997 và Dương Hoàng Th, sinh ngày 26 tháng 9 năm 2005. Do hiện nay cháu TH đang ở cùng bà, nên sau khi ly hôn, bà yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Dương Hoàng Th. Do cháu Dương Hoàng Kh đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Dương Hoàng Th không cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Dương Hoàng Th đã được Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 208; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng ông Th không đến Tòa án làm việc và vắng mặt tại phiên tòa.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Ph khởi kiện ông Th yêu cầu ly hôn, ông Th hiện có đăng ký thường trú và sinh sống tại số 304, khu phố p, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Dương Hoàng Th theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 208; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng ông Th không đến Tòa án làm việc và vắng mặt tại phiên tòa. Việc vắng mặt của ông Th trong quá trình tố tụng được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim Ph và ông Dương Hoàng Th tự nguyện tìm hiểu chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND xã (nay là phường) Đ, huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương, theo giấy chứng nhận kết hôn số 49 ngày 19 tháng 7 năm 2006, là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình tố tụng, bà Ph xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, dẫn đến hay cãi vã, sống không hạnh phúc. Do đó, bà Ph khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Th.

Xét thấy, mặc dù qua xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân giữa bà Ph và ông Th chính quyền địa phương không nhận thấy mâu thuẫn gì. Tuy nhiên, quan hệ hôn nhân giữa người vợ và người chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng trong quan hệ vợ chồng thì người vợ và người chồng phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp của vợ chồng. Nhưng quan hệ hôn nhân giữa bà Ph và ông Th không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc, vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm lẫn nhau, người nào chỉ biết bổn phận của người đó, bỏ mặc nhau. Tòa án nhiều lần triệu tập ông Th tham gia phiên hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, nhưng ông Th vắng mặt thể hiện thái độ không muốn hòa giải. Mặt khác, bà Ph xác định bà không còn tình cảm với ông Th, vợ chồng không thể đoàn tụ được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Ph về việc ly hôn với ông Th.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Dương Hoàng Kh, sinh ngày 24 tháng 9 năm 1997 và Dương Hoàng Th, sinh ngày 26 tháng 9 năm 2005. Sau khi ly hôn, bà Ph yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên Dương Hoàng Th. Do cháu Dương Hoàng Kh đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử nhận thấy cháu Th hiện đang sống chung với bà Ph, cháu có nguyện vọng sống chung với mẹ. Ngoài ra, bà Phượng có công việc và thu nhập ổn định. Do đó, để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức nên giao cháu Th cho bà Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Kim Ph không yêu cầu ông Dương Hoàng Th cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Ph đối với bị đơn ông Dương Hoàng Th về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim Ph được ly hôn với ông Dương Hoàng Th.

- Về con chung: Giao con chung tên Dương Hoàng Th, sinh ngày 26 tháng 9 năm 2005 cho bà Nguyễn Thị Kim Ph được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Do cháu Dương Hoàng Kh đã trưởng thành, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Dương Hoàng Th không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim Ph phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002642 ngày 14 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

3. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ