vanban.org

Bản án 72/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H. Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Tài Q.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung tên Nguyễn Tài Anh Kh, sinh ngày 09/5/2012, Nguyễn Tài Gia K, sinh ngày 02/9/2013, Nguyễn Tài Đăng K1, sinh ngày 08/8/2017. Tạm thời, anh Q không phải nộp cho Chị H tiền cấp dưỡng nuôi con. Không ai được cản trở quyền đi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H. Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Tài Q.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 24-6-2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

---

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Loan

Các hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Đài và ông Đặng Quang Hoạch

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Bình – Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 668/2021/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 11 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2022/QĐXX-HNGĐ, ngày 20/5/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số: 76/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 07/6/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tài Q, sinh năm 1983

Cùng trú tại: 134/4, ấp L, xã Tây H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Chị H, anh Q vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Tài Q tự nguyện kết hôn, đã được UBND xã Q, huyện T cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 17/10/2011. Vợ chồng anh chị có 03 con chung là cháu Nguyễn Tài Anh Kh, sinh ngày 09/5/2012, Nguyễn Tài Gia K, sinh ngày 02/9/2013, Nguyễn Tài Đăng K1, sinh ngày 08/8/2017. Nguyên nhân chị xin ly hôn với anh Q là do vợ chồng hay mâu thuẫn, cãi vã, không tôn trọng nhau. Nay, tình cảm chị dành cho anh Q không còn nên chị xin ly hôn với anh Q. Về con chung: Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi cả ba con chung, tạm thời chị không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung: Không có.

- Trong quá trình chuẩn bị xét xử bị đơn Nguyễn Tài Q không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Tài Q. Về con chung: Đề nghị Tòa án giao cho Chị H được nuôi con chung tên Nguyễn Tài Anh Kh, sinh ngày 09/5/2012, Nguyễn Tài Gia K, sinh ngày 02/9/2013, Nguyễn Tài Đăng K1, sinh ngày 08/8/2017, tạm thời anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: Chị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tranh chấp giữa các bên là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

[1.2] Chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với anh Nguyễn Tài Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Chị H, anh Q.

Xét yêu cầu của nguyên đơn thì thấy:

Về yêu cầu xin ly hôn: HĐXX xét thấy: quan hệ giữa Chị H và anh Q là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì anh chị lấy nhau tự nguyện, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn. Mâu thuẫn phát sinh vì Chị H cho rằng chị và anh Q thường mâu thuẫn, cãi vã nghiêm trọng. Riêng đối với Chị H, Tòa án đã nhiều lần hòa giải, thuyết phục chị đoàn tụ nhưng chị kiên quyết ly hôn. Anh Q đã được triệu tập tham gia hòa giải nhưng cũng không đến Tòa án để tham gia hòa giải nên HĐXX xét thấy anh Q cũng không có thiện chí đoàn tụ. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa Chị H và anh Q trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận cho Chị H được ly hôn với anh Q.

Về con chung: HĐXX xét thấy Chị H và anh Q có 03 con chung chưa thành niên tên Nguyễn Tài Anh Kh, sinh ngày 09/5/2012, Nguyễn Tài Gia K, sinh ngày 02/9/2013, Nguyễn Tài Đăng K1, sinh ngày 08/8/2017. Chị H yêu cầu được nuôi con chung, cháu Khoa và cháu Khánh trên 7 tuổi, cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. HĐXX xét thấy cần giao cho Chị H được nuôi dưỡng con chung. Do Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nên tạm thời, anh Q không phải nộp cho Chị H tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.

Xét đề nghị nêu trên của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom thì thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H. Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Tài Q.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung tên Nguyễn Tài Anh Kh, sinh ngày 09/5/2012, Nguyễn Tài Gia K, sinh ngày 02/9/2013, Nguyễn Tài Đăng K1, sinh ngày 08/8/2017. Tạm thời, anh Q không phải nộp cho Chị H tiền cấp dưỡng nuôi con.

Không ai được cản trở quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, vì lợi ích của con, khi điều kiện thay đổi, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Nguyễn Thị H đã nộp theo biên lai thu số: 0000532, ngày 25/11/2021, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom qua nộp án phí. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ