- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân — án hôn nhân và gia đình — "Chia tài sản và nợ chung sau khi ly hôn (T - B)"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ tài sản chung: Xác định tài sản chung chưa chia của bà T và ông B là phần đất có diện tích đất 126,2m2 theo đo đạc thực tế, đất tọa lạc tại ấp BM, xã BM, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang (đất mé sông, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
- Căn cứ chính? Điều 213 Bộ luật Dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2022/HNGĐ-ST Ngày: 23-12-2022 V/v Tranh chấp chia tài sản chung và nợ chung sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Linh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Thanh Liêm
2. Bà Phan Thị Cẩm
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Nguyễn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tri Phương.
Ngày 23 tháng 12 năm 2022 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54A/2021/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2021 về tranh chấp “Chia tài sản chung và nợ chung sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2022 giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Phan Ngọc T, sinh năm 1969 (có mặt)
2. Bị đơn: Ông Văn Công B, sinh năm 1960 (có mặt)
Địa chỉ: ấp BM, xã BM, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Văn Thị H, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp MCA, xã MT, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang
Người đại diện hợp pháp của Văn Thị H: Ông Văn Tiến O, sinh năm 1954, trú tại: ấp TB, xã TQ, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 12/10/2022) (có mặt).
3.2. Ông Văn Tiến O, sinh năm 1954 (có mặt)
Địa chỉ: ấp TB, xã TQ, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang
3.3. Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận
Địa chỉ: khu phố VĐ2, thị trấn VT, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng: Bà Sử Thị Huyền Tr, sinh năm 1989, trú tại: khu phố VĐ2, thị trấn VT, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang là người đại diện theo ủy quyền (Quyết định ủy quyền số 03/QĐ-PGĐ ngày 12/01/2021) (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/11/2021; đơn khởi kiện bổ sung ngày 17/8/2022; biên bản lấy lời khai ngày 06/9/2022; biên bản đối chất ngày 14/10/2022; biên bản hòa giải các ngày 17/8/2022, 19/11/2022 nguyên đơn bà Phan Ngọc T trình bày:
Bà và ông Văn Công B đã được Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận giải quyết ly hôn bằng bản án số 49/2020/HNGĐ-ST ngày 30/11/2020 của TAND huyện Vĩnh Thuận, nhưng nội dung chỉ giải quyết về ly hôn, còn các nội dung khác tự thỏa thuận.
Nhưng hiện do không thỏa thuận được tài sản và nợ nên bà làm đơn khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung gồm có: Diện tích đất 126,2m2 theo đo đạc thực tế đất tọa lạc tại ấp BM, xã BM, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang (đất mé sông, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Vị trí: Hướng Đông giáp Quốc lộ 63, hướng Tây giáp Kênh làng Thứ 7, hướng Nam giáp Phạm Văn Phong, hướng Bắc giáp Phạm Văn Tám và 02 căn nhà liền kề trên đất. Phần đất này hiện tại bà và ông B mỗi người tự sử dụng cụ thể như sau:
+ Phần bà đang sử dụng: Phần đất có diện tích 59m2, trong đó: Cạnh 2-5 giáp Quốc lộ 63 là 4,46m; cạnh 5-6 giáp Phạm Văn Phong 13,23m; cạnh 6-3 giáp Kênh làng Thứ 7 là 4,32m; cạnh 3-2 giáp phần ông B đang sử dụng là 13,87m và căn nhà liền kề trên đất;
+ Phần ông B đang sử dụng: Phần đất có diện tích 67,2m2, trong đó: Cạnh 1-2 giáp Quốc lộ 63 là 4,78m; cạnh 2-3 giáp phần đất bà đang sử dụng là 13,87m; cạnh 3-4 giáp Kênh làng Thứ 7 là 4,76m; cạnh 4-1 giáp ông Phạm Văn Tám là 14,56m và căn nhà liền kề trên đất.
- Nợ Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận, nhưng bà không xác định được hiện còn nợ bao nhiêu, ngoài ra không nợ ai khác.
Xác định không nợ của bà Văn Thị H, ông Văn Tiến O nên không đồng ý trả. Từ trước đến nay bà không mượn nợ bất kỳ ai bên ông Văn Công B. Lời nói trong đoạn ghi âm ngày 17/4/2022 thể hiện trong biên bản đối chất ngày 14/10/2022 có đoạn “có nợ mượn về ăn chung, xài chung, khi nào có trả” là tiếng nói của bà, nhưng không nói trong đoạn ghi âm này, đoạn ghi âm này đã bị cắt ghép. Trường hợp Tòa án trưng cầu giám định đoạn ghi âm này không bị cắt ghép thì bà đồng ý trả nợ.
Vào năm 2012 vợ chồng bà có cố đất của em ruột là Phan Tường V 10 công đất với giá cố là 30 chỉ vàng 24k (vàng 98%), thời hạn cố đất là 03 năm, nhưng do con đi học thiếu tiền nên vợ chồng bà mới yêu cầu V chuộc lại đất.
Nay yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về tài sản: Yêu cầu được sử dụng phần đất có diện tích 59m2, trong đó: Cạnh 2-5 giáp Quốc lộ 63 là 4,46m; cạnh 5-6 giáp Phạm Văn Phong 13,23m; cạnh 6-3 giáp Kênh làng Thứ 7 là 4,32m; cạnh 3-2 giáp phần ông B đang sử dụng là 13,87m và căn nhà liền kề trên đất.
Phần còn lại giao ông B được quyền sử dụng phần đất có diện tích 67,2m2, trong đó: Cạnh 1-2 giáp Quốc lộ 63 là 4,78m; cạnh 2-3 giáp phần đất bà đang sử dụng là 13,87m; cạnh 3-4 giáp Kênh làng Thứ 7 là 4,76m; cạnh 4-1 giáp ông Phạm Văn Tám là 14,56m và căn nhà liền kề trên đất.
- Về nợ chung: Mỗi người chịu trách nhiệm trả ½ nợ của Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận. Trước đây bà và ông B có tự thỏa thuận tài sản chia đôi thì bà tự nguyện trả nợ cho Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận, nhưng do ông B không chia nên nay mỗi người chịu trách nhiệm trả ½ số nợ cho Ngân hàng.
* Tại bản tự khai ngày 13/4/2021; biên bản lấy lời khai các ngày 27/12/2021, 06/9/2022; biên bản đối chất ngày 14/10/2022; biên bản hòa giải các ngày 17/8/2022, 19/11/2022 bị đơn ông Văn Công B trình bày:
Theo ý kiến bà T trình bày về việc ly hôn và tài sản là đúng như bà T trình bày trên.
Về nợ: Ông và bà T có nợ:
- Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận tổng cộng 47.208.232 đồng, trong đó: gốc 42.800.000 đồng, lãi 4.408.232 đồng;
- Xác định ông và bà T trước khi ly hôn có mượn của bà Văn Thị H 20 chỉ vàng 24k (vàng 98%), do ông Văn Tiến O là người đưa tiền.
Năm 2013 nhận cầm cố của Phan Tường V 10 công đất, thời hạn cố đất là 03 năm, nhưng mới cố 01 năm thì bà T thiếu nợ nhiều nên mới kêu Vy chuộc lại đất để cho bà T trả nợ và Vy cũng đồng ý chuộc lại đất.
Nay theo yêu cầu của bà T, ông có ý kiến như sau:
- Về tài sản chung: Đồng ý theo ý kiến phân chia của bà T nêu trên.
- Về nợ chung:
+ Nhận trách nhiệm trả cho bà Văn Thị H 10 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%), nhưng hiện chưa có khả năng trả;
+ Giao bà T chịu trách nhiệm trả 10 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%) cho bà Văn Thị H và toàn bộ nợ Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận. Vì trước khi ông và bà T ly hôn, ông bà có nợ Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận số tiền vay theo hai khế ước như đại diện Ngân hàng trình bày là hoàn toàn đúng. Nhưng do trước đây bà T đã hứa sẽ tự trả nợ cho Ngân hàng, nên nay ông không đồng ý trả đồng nào, giao bà T tự chịu trách nhiệm trả nợ toàn bộ cho Ngân hàng.
* Tại đơn khởi kiện yêu cầu độc lập ngày 11/10/2022 và biên bản đối chất ngày 14/10/2022 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Văn Thị H trình bày: Vào khoảng năm 2012 bà đi làm thuê ở Hàn Quốc, bà có gửi cho ông Văn Tiến O số tiền 4.500 USD, do ông O đi Rạch Giá đổi ra tiền Việt Nam đồng (Thời điểm năm 2012 đổi ra 100 USD = 2.050.000 đồng, 4.500 USD đổi ra được số tiền 92.250.000 đồng). Thời điểm đó Phan Ngọc T và Văn Công B có hỏi mượn bà số vàng 20 chỉ vàng 24k để cầm cố đất, nhưng do bà không có vàng nên mới kêu ông Văn Tiến O lấy tiền cho Văn Công B và Phan Ngọc T mượn nhưng quy đổi ra vàng, giá vàng năm 2012 khoảng gần 3.500.000 đồng/chỉ; ông O, bà Thành đưa cho ông B, bà T mượn số tiền gần 70.000.000 đồng tương đương 20 chỉ vàng 24k (vàng 98%). Cùng thời điểm đó, cũng có cho vợ cH Văn Thị Lan cũng mượn của bà số vàng 05 chỉ tương đương số tiền khoảng 17.000.000 đồng và ông O, bà Thành cũng là người đưa tiền. Tại thời điểm cho mượn ông B, bà T có viết biên nhận giao ông ông O giữ, nhưng do ông O đi đường đến huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang năm 2013 bị cướp giật mất túi xách nên đã mất luôn tờ biên nhận. Sau đó bà T và ông B ly hôn có thỏa thuận miệng trả nợ cho bà 20 chỉ vàng 24k (vàng 98%) nhưng sau đó không trả; bà có gọi điện thoại nhiều lần cho bà T để yêu cầu trả nợ, bà có ghi âm lại đoạn thoại giữa bà và bà T
* Tại biên bản lấy lời khai các ngày 13/4/2022, 06/9/2022; biên bản hòa giải các ngày 17/8/2022, 19/11/2022 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Văn Tiến O đồng thời là người đại diện hợp pháp của bà Văn Thị H trình bày:
Vào năm 2012 Văn Thị H gửi tiền USD về cho ông, số tiền 4.500 USD, đổi ra tiền Việt Nam được khoảng hơn 90.000.000 đồng. Bà H kêu ông mang tiền cho Văn Công B, Phan Ngọc T mượn thì bà T trực tiếp điện thoại lại tiệm vàng Thanh Hải (chợ ngã 5) hỏi giá vàng và quy ra giá trị 20 chỉ vàng 24k gần khoảng hơn 68.000.000 đồng, lúc đó giá vàng khoảng 3.420.000đ/chỉ - 3.430.000đ/chỉ.
Thời điểm cho mượn ông B là người viết biên nhận, bà T có ký vào, nhưng sau đó năm 2013 trên đường đi vợ ông bị giật túi xách nên biên nhận cũng bị mất. Vì vậy lần trước khi Tòa án hòa giải ông trình bày việc mượn không làm giấy tờ. Tại thời điểm đưa tiền có ông, bà T, ông B, bà Bùng, bà Lê Kim Thành, Văn Thị Bé Năm, bà Văn Thị Lan, Lưu Nguyên Thủ.
Mục đích mượn 20 chỉ vàng của ông B và bà T là cố đất của em ruột bà T (ở kinh 8).
Ông nghĩ ông là người cho mượn thì có quyền đòi lại để trả lại cho bà Văn Thị H nên trước đây mới làm đơn khởi kiện để đòi lại.
Nay xác định lại, ông B và bà T không nợ ông mà chỉ nợ bà Văn Thị H 20 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%).
Với tư cách là người đại diện theo ủy quyền yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phan Ngọc T, ông Văn Công B mỗi người trả 10 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%).
* Tại đơn khởi kiện ngày 21/4/2022; bản tự khai ngày 21/4/2022; biên bản hòa giải 19/11/2022 người đại diện hợp pháp của Ngân hàng chính sách xã hội
- Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận bà Sử Thị Huyền Tr trình bày: Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận có cho ông Văn Công B và bà Phan Ngọc T vay tiền, cụ thể như sau:
- Vay chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường theo khế ước 6600000715070064: Số tiền 20.000.000 đồng, lãi 9%/năm, thời hạn vay 05 năm kể từ ngày 10/4/2019 đến ngày 10/4/2024. Hiện còn nợ gốc 17.800.000 đồng, lãi 1.829.349 đồng.
- Vay hộ cận nghèo theo khế ước 6600000712476447: Số tiền 25.000.000 đồng, lãi 7,92%/năm, thời hạn vay 03 năm kể từ ngày 10/4/2018 đến ngày 10/4/2021. Hiện còn nợ gốc 25.000.000 đồng, lãi 2.578.883 đồng.
Hai hợp đồng trên từ tháng 8 năm 2021 đến nay chưa trả lãi.
Vì vậy, nay yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Văn Công B và bà Phan Ngọc T phải trả cho Ngân hàng số tiền vay còn thiếu tổng cộng của hai hợp đồng nêu trên là 47.208.232 đồng, trong đó: gốc 42.800.000 đồng, lãi 4.408.232 đồng (Vay chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường theo khế ước 6600000715070064: nợ gốc 17.800.000 đồng, lãi 1.829.349 đồng; Vay hộ cận nghèo theo khế ước 6600000712476447: nợ gốc 25.000.000 đồng, lãi 2.578.883 đồng). Đồng thời yêu cầu trả lãi phát sinh đến khi thanh toán hết số nợ theo hợp đồng.
* Tại phiên tòa:
- Các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày và yêu cầu như trên.
- Bà Sử Thị Huyền Tr người đại diện hợp pháp của Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận yêu cầu buộc bà Phan Ngọc T, ông Văn Công B có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận số tiền vay còn thiếu tổng cộng của hai hợp đồng tính đến ngày 23/12/2022 là 47.836.259 đồng, trong đó: gốc 42.800.000 đồng, lãi 5.036.259 đồng (Vay chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường theo khế ước 6600000715070064: nợ gốc 17.800.000 đồng, lãi 2.154.138 đồng; Vay hộ cận nghèo theo khế ước 6600000712476447: nợ gốc 25.000.000 đồng, lãi 2.882.121 đồng) và lãi phát sinh cho đến khi tất toán 02 hợp đồng với Ngân hàng.
- Đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xem xét những vấn đề cụ thể như sau, về quan hệ tài sản chung: Xác định tài sản chung chưa chia của bà T và ông B là phần đất có diện tích đất 126,2m2 theo đo đạc thực tế, đất tọa lạc tại ấp BM, xã BM, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang (đất mé sông, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Vị trí: Hướng Đông giáp Quốc lộ 63, hướng Tây giáp Kênh làng Thứ 7, hướng Nam giáp Phạm Văn Phong, hướng Bắc giáp Phạm Văn Tám và 02 căn nhà liền kề trên đất. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bà Phan Ngọc T và ông Văn Công B, cụ thể: Bà T được sử dụng phần đất có diện tích 59m2, trong đó: Cạnh 2-5 giáp Quốc lộ 63 là 4,46m; cạnh 5-6 giáp Phạm Văn Phong 13,23m; cạnh 6-3 giáp Kênh làng Thứ 7 là 4,32m; cạnh 3-2 giáp phần ông B đang sử dụng là 13,87m và căn nhà liền kề trên đất;
Ông B được sử dụng phần đất có diện tích 67,2m2, trong đó: Cạnh 1-2 giáp Quốc lộ 63 là 4,78m; cạnh 2-3 giáp phần đất bà T đang sử dụng là 13,87m; cạnh 3-4 giáp Kênh làng Thứ 7 là 4,76m; cạnh 4-1 giáp ông Phạm Văn Tám là 14,56m và căn nhà liền kề trên đất.
Về quan hệ nợ chung: Xác định bà T, ông B còn nợ bà Văn Thị H 20 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%) và nợ Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận số tiền gốc, lãi đến ngày 23/12/2022 là 47.836.259 đồng, trong đó: gốc 42.800.000 đồng, lãi 5.036.259 đồng (Vay chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường theo khế ước 6600000715070064: nợ gốc 17.800.000 đồng, lãi 2.154.138 đồng; Vay hộ cận nghèo theo khế ước 6600000712476447: nợ gốc 25.000.000 đồng, lãi 2.882.121 đồng) và lãi phát sinh theo hai hợp đồng. Buộc mỗi người chịu trách nhiệm trả ½ số vàng còn nợ đối với bà Văn Thị H và ½ số tiền còn nợ đối với Ngân hàng và lãi phát sinh theo hai hợp đồng cho đến khi trả hết nợ vay.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Phan Ngọc T và bị đơn ông Văn Công B đã được Tòa án giải quyết cho ly hôn B bản án số 49/2020/HNGĐ-ST ngày 30/11/2020 của TAND huyện Vĩnh Thuận, hiện bản án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng về tài sản và nợ khi đó xác định không tranh chấp nên chưa được giải quyết. Nay bà T yêu cầu chia tài sản chung của bà và ông B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu bà T, ông B phải trả số nợ còn thiếu. Do đó, quan hệ pháp luật đối với vụ án này được xác định là “Tranh chấp chia tài sản chung và nợ chung sau khi ly hôn”. Đồng thời, bị đơn ông Văn Công B có nơi cư trú cũng như đối tượng tranh chấp là phần đất tại ấp BM, xã BM, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ tài sản chung: Tại phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay, giữa nguyên đơn bà Phan Ngọc T và bị đơn ông Văn Công B thống nhất xác định và tự thỏa thuận: Tài sản chung chưa chia của bà T và ông B là phần đất có diện tích đất 126,2m2 theo đo đạc thực tế đất tọa lạc tại ấp BM, xã BM, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang (đất mé sông, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Vị trí: Hướng Đông giáp Quốc lộ 63, hướng Tây giáp Kênh làng Thứ 7, hướng Nam giáp Phạm Văn Phong, hướng Bắc giáp Phạm Văn Tám và 02 căn nhà liền kề trên đất.
Hiện mỗi người đang sử dụng từ khi ly hôn đến nay và cũng thống nhất, phần người nào đang sử dụng thì vẫn tiếp tục được quản lý, sử dụng, cụ thể: Bà T được sử dụng phần đất có diện tích 59m2, trong đó: Cạnh 2-5 giáp Quốc lộ 63 là 4,46m; cạnh 5-6 giáp Phạm Văn Phong 13,23m; cạnh 6-3 giáp Kênh làng Thứ 7 là 4,32m; cạnh 3-2 giáp phần ông B đang sử dụng là 13,87m và căn nhà liền kề trên đất;
Ông B được sử dụng phần đất có diện tích 67,2m2, trong đó: Cạnh 1-2 giáp Quốc lộ 63 là 4,78m; cạnh 2-3 giáp phần đất bà T đang sử dụng là 13,87m; cạnh 3-4 giáp Kênh làng Thứ 7 là 4,76m; cạnh 4-1 giáp ông Phạm Văn Tám là 14,56m và căn nhà liền kề trên đất.
Thấy rằng đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự và phù hợp với quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 213, khoản 2 Điều 218 Bộ luật dân sự năm 2015 và các điều 27, 33, 59, 60, 62 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên HĐXX ghi nhận.
Tại Công văn số 83/TNMT-ĐĐ ngày 05/10/2022 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Vĩnh Thuận xác định, phần đất gồm các điểm 1, 2, 3, 4 và phần đất có các điểm 2, 5, 6, 3 theo tờ trích đo địa chính số 257-2022 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai. Sau khi được Tòa án giải quyết thuộc về người nào thì người đó thuộc trường hợp được Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Thuận cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi đương sự có yêu cầu.
Do đó, bà Phan Ngọc T và ông Văn Công B được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Về quan hệ nợ chung:
- Đối với yêu cầu độc lập của bà Văn Thị H: Bà H xác định vào năm 2012, khi đó bà T và ông B còn sống chung với nhau có hỏi mượn của bà 20 chỉ vàng 24k để cầm cố đất, nhưng do bà đi làm thuê ở Hàn Quốc nên có gửi tiền USD về Việt Nam nhờ ông Văn Tiến O nhận và đổi sang tiền Việt Nam để đưa cho bà T, ông B mượn với số tiền gần 70.000.000 đồng tương đương 20 chỉ vàng 24k (vàng 98%). Nay bà T, ông B phân chia tài sản chung nên yêu cầu mỗi người phải trả cho bà ½ số vàng còn nợ.
Đồng thời, tại biên bản đối chất ngày 14/10/2022 các đương sự đều thống nhất xác định, thời điểm năm 2012 bà T, ông B có nhận cầm cố đất 10 công đất của Phan Tường Vy là em ruột bà T với giá 30 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%) (bút lục 147), việc này cũng phù hợp với lời trình bày của bà H.
Tuy bà T không đồng ý với yêu cầu của bà H nêu ra, vì bà xác định từ trước đến nay không lần nào mượn nợ của bất kỳ ai bên gia đình ông B, nhưng theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và Tòa án thu thập được thể hiện: Tại biên bản hòa giải ngày 17/8/2022 (bút lục số 104, 105, 106) bà T xác định “không nợ ông Văn Tiến O, nhưng trước khi bà và ông B ly hôn có nợ bà Văn Thị H nhưng không xác định được bao nhiêu”. Hơn nữa, vào ngày 17/4/2022 giữa bà T, bà H có gọi điện thoại trò chuyện với nhau và bà H đã ghi âm lại cuộc trò chuyện giữa hai người. Trong đoạn ghi âm có đoạn “có nợ mượn về ăn chung, xài chung, khi nào có trả”. Qua nhiều lần làm việc bà T vẫn thừa nhận đó là tiếng nói của bà, nhưng bà cho rằng không nói trong đoạn ghi âm này và xác định đoạn ghi âm này đã bị cắt ghép. Đồng thời, tại biên bản hòa giải ngày 11/11/2022 bà T có ý kiến “trường hợp Tòa án trưng cầu giám định đoạn ghi âm này không bị cắt ghép thì bà đồng ý trả nợ” (bút lục số 168).
Nguyên đơn bà T cho rằng đoạn ghi âm ngày 17/4/2022 bị cắt ghép, nhưng bà lại xác định không yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định. Sau đó bị đơn ông B đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo quy định để yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định đối với đoạn ghi âm ngày 17/4/2022, và Toà án đã tiến hành các thủ tục thu thập tiếng nói của bà T để trưng cầu cơ quan chuyên môn giám định tiếng nói của bà Phan Ngọc T.
Theo kết luận giám định số: 6153/KL-KTHS ngày 28/11/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ Công an xác định mẫu cần giám định là dữ liệu tiếng nói trong file âm thanh “20220407_131011_MyRec_0417_1303_1_1_.mp3 (thời lượng 04 phút 19 giây) có mã MD5: “789FEFC9AC012503FB0B7CEF28443AD6” được lưu trong USB (nhãn hiệu “Kingston”, dung lượng 2GB), đựng trong hộp giấy nhãn hàng Kingston, trên giấy có ghi “Tôi Văn Công B giao nộp 02/11/2022” và ký ghi tên Văn Công B và mẫu so sánh là tiếng nói của bà Phan Ngọc T trong file âm thanh “đoạn ghi âm do Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận ghi.m4a” (thời lượng 09 phút 55 giây), được lưu trong USB (nhãn hiệu “Kingston”, dung lượng 2GB). Kết quả không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hội thoại trong file âm thanh mẫu cần giám định; tiếng nói của nữ được gọi là “chị” trong file âm thanh mẫu cần giám định và tiếng nói của đương sự Phan Ngọc T trong mẫu so sánh là cùng một người nói ra.
Sau khi có kết luận giám định, Toà án đã tiến hành tống đạt bản kết luận giám định cho các đương sự trong vụ án, nhưng không ai có ý kiến gì.
Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ xác định hiện bà T, ông B còn nợ bà Văn Thị H 20 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%). Do đó, yêu cầu độc lập của bà Văn Thị H là có căn cứ để chấp nhận toàn bộ nên cần buộc bà Phan Ngọc T, ông Công B phải mỗi người có trách nhiệm trả ½ số vàng mượn (vay không lãi) còn thiếu đối với bà Văn Thị H là 20 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%), vì đây là nghĩa vụ trả nợ của bên vay tài sản theo quy định tại Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự tại phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay, có đủ cơ sở để xác định được giữa Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận với bà T, ông B có xác lập hai hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và có lãi với nhau, các bên đã thống nhất với nhau về thời gian ký kết hợp đồng, lãi suất, thời hạn vay, mục đích vay và số tiền gốc, lãi hiện bà T, ông B còn nợ đối với Ngân hàng. Cả 02 hợp đồng vay đều không có tài sản để đảm bảo mà chỉ là hình thức vay tín chấp. Theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX khẳng định đây là sự thật.
Bị đơn ông B có ý kiến không đồng ý chịu trách nhiệm trả nợ cùng bà T, vì ông cho rằng trước đây bà T có hứa sẽ trả toàn bộ số nợ vay cho Ngân hàng. Tuy nhiên, theo bà T xác định bà chỉ đồng ý trả nợ cho Ngân hàng khi bà và ông B tự thỏa thuận tài sản chia đôi, nhưng do ông B không chia nên nay mỗi người chịu trách nhiệm trả ½ số nợ cho Ngân hàng.
HĐXX xét thấy, các bên đều thống nhất xác định và thừa nhận đây là khoản nợ chung trước khi ly hôn, hiện còn nợ đúng như đại diện Ngân hàng yêu cầu. Tuy ông B không đồng ý trả nhưng xác định đây là khoản nợ chung thì mỗi người phải có trách nhiệm trả ½ gốc, lãi cho Ngân hàng là có căn cứ.
Vì vậy, nay bà T, ông B phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận số tiền vay còn thiếu tổng cộng của hai hợp đồng tính đến ngày 23/12/2022 là 47.836.259 đồng, trong đó: gốc 42.800.000 đồng, lãi 5.036.259 đồng (Vay chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường theo khế ước 6600000715070064: nợ gốc 17.800.000 đồng, lãi 2.154.138 đồng; Vay hộ cận nghèo theo khế ước 6600000712476447: nợ gốc 25.000.000 đồng, lãi 2.882.121 đồng) và phải trả lãi phát sinh cho đến khi tất toán 02 hợp đồng với Ngân hàng, vì đây là nghĩa vụ của bên vay tài sản theo quy định tại các điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó yêu cầu độc lập của Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận là có căn cứ để chấp nhận toàn bộ.
Đối với nghĩa vụ chậm thi hành án tiền vay do tổ chức tín dụng cho vay, áp dụng Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và công bố theo quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Quá trình giải quyết vụ án ông Văn Tiến O có đơn xin rút lại yêu cầu độc lập buộc bà Phan Ngọc T, ông Văn Công B phải trả cho ông số vàng mượn là 20 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%), không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết. Đồng thời, nguyên đơn bà T và bị đơn ông B không có ý kiến gì. Như vậy, xác định được ông O rút yêu cầu độc lập là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật và đạo đức xã hội, nên cần đình chỉ giải quyết yêu cầu này của ông O theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận toàn bộ.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản: Tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 745.500 đồng và chi phí định giá tài sản là 6.800.000 đồng, tổng cộng 7.545.500 đồng. Bà T và ông B mỗi người phải chịu ½ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và ½ chi phí định giá tài sản.
Do nguyên đơn bà Phan Ngọc T đã nộp toàn bộ số tiền 7.545.500 đồng, nên ông Văn Công B có nghĩa vụ hoàn trả lại bà Phan Ngọc T ½ số tiền này B 3.772.750 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 157, Điều 158, khoản 2 Điều 165, Điều 166 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (phần bà T đã nộp xong).
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Do về phần tài sản hai bên đương sự đã thỏa thuận được nội dung này từ khi hòa giải và cho đến tại phiên tòa hôm nay, nên chỉ phải chịu 50% mức án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nguyên đơn bà Phan Ngọc T phải chịu đối với giá trị tài sản được chia 9.106.034 đồng [540.097.046 đồng = (20.000.000 đồng + 4% x 140.097.046 đồng) x 50%] - án phí nghĩa vụ trả nợ.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bị đơn ông B phải chịu 10.482.075 đồng [608.899.076 đồng = (20.000.000 đồng + 4% x 208.899.076 đồng) x 50%]
- án phí nghĩa vụ trả nợ.
Án phí thanh toán các khoản nợ bà Phan Ngọc T phải chịu là 3.695.906 đồng{[10 chỉ vàng 24k (vàng 98%) x 5.000.000đ/chỉ] + 23.918.129 đồng} x 5%.
Án phí thanh toán các khoản nợ ông Văn Công B phải chịu 3.695.906 đồng{[10 chỉ vàng 24k (vàng 98%) x 5.000.000đ/chỉ] + 23.918.129 đồng} x 5%
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, điểm c khoản 1 Điều 39, các điều 91, 92, 147, khoản 2 Điều 157, Điều 158, khoản 2 Điều 165, Điều 166, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,
Áp dụng khoản 4, khoản 5 Điều 213, khoản 2 Điều 218, các điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015 và các điều 27, 33, 59, 60, 62 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Án lệ số 08/2016/AL công bố theo quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ tài sản chung: Xác định tài sản chung chưa chia của bà T và ông B là phần đất có diện tích đất 126,2m2 theo đo đạc thực tế, đất tọa lạc tại ấp BM, xã BM, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang (đất mé sông, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Vị trí: Hướng Đông giáp Quốc lộ 63, hướng Tây giáp Kênh làng Thứ 7, hướng Nam giáp Phạm Văn Phong, hướng Bắc giáp Phạm Văn Tám và 02 căn nhà liền kề trên đất.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa nguyên đơn bà Phan Ngọc T với bị đơn ông Văn Công B, phân chia tài sản chung như sau:
Bà T được quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 59m2, trong đó: Cạnh 2-5 giáp Quốc lộ 63 là 4,46m; cạnh 5-6 giáp Phạm Văn Phong 13,23m; cạnh 6-3 giáp Kênh làng Thứ 7 là 4,32m; cạnh 3-2 giáp phần ông B đang sử dụng là 13,87m và căn nhà liền kề trên đất;
Ông B được quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 67,2m2, trong đó: Cạnh 1-2 giáp Quốc lộ 63 là 4,78m; cạnh 2-3 giáp phần đất bà T đang sử dụng là 13,87m; cạnh 3-4 giáp Kênh làng Thứ 7 là 4,76m; cạnh 4-1 giáp ông Phạm Văn Tám là 14,56m và căn nhà liền kề trên đất.
(đúng theo thực tế hiện trạng bà T, ông B đang sử dụng và kèm theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 06/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận và tờ trích đo địa chính số: TĐ 57-2022, ngày 26 tháng 7 năm 2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang).
Bà Phan Ngọc T, ông Văn Công B được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng nội dung của quyết định trên.
2. Về quan hệ nợ chung:
2.1. Buộc bà Phan Ngọc T, ông Văn Công B có nghĩa vụ trả cho bà Văn Thị H số vàng mượn (vay không lãi) còn thiếu là 20 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%), trong đó: Bà Phan Ngọc T có nghĩa vụ trả cho bà Văn Thị H 10 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%); ông Văn Công B có nghĩa vụ trả cho bà Văn Thị H 10 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%).
2.2. Buộc bà Phan Ngọc T, ông Văn Công B có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận số tiền vay còn thiếu tổng cộng của hai hợp đồng tính đến ngày 23/12/2022 là 47.836.259 đồng, trong đó: gốc 42.800.000 đồng, lãi 5.036.259 đồng (Vay chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường theo khế ước 6600000715070064: nợ gốc 17.800.000 đồng, lãi 2.154.138 đồng; Vay hộ cận nghèo theo khế ước 6600000712476447: nợ gốc 25.000.000 đồng, lãi 2.882.121 đồng) và lãi phát sinh cho đến khi tất toán 02 hợp đồng với Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận, trong đó:
Buộc bà Phan Ngọc T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng chính sách xã hội
- Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận số tiền vay tính đến ngày 23/12/2022 là 23.918.129 đồng, trong đó: gốc 21.400.000 đồng, lãi 2.518.129 đồng (Vay chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường theo khế ước 6600000715070064: nợ gốc 8.900.000 đồng, lãi 1.077.069 đồng; Vay hộ cận nghèo theo khế ước 6600000712476447: nợ gốc 12.500.000 đồng, lãi 1.441.060 đồng) và lãi phát sinh cho đến khi tất toán 02 hợp đồng với Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận.
Buộc ông Văn Công B có trách nhiệm trả cho Ngân hàng chính sách xã hội
- Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận số tiền vay tính đến ngày 23/12/2022 là 23.918.129 đồng, trong đó: gốc 21.400.000 đồng, lãi 2.518.129 đồng (Vay chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường theo khế ước 6600000715070064: nợ gốc 8.900.000 đồng, lãi 1.077.069 đồng; Vay hộ cận nghèo theo khế ước 6600000712476447: nợ gốc 12.500.000 đồng, lãi 1.441.060 đồng) và lãi phát sinh cho đến khi tất toán 02 hợp đồng với Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận.
“Kể từ ngày tiếp theo của ngày 24/12/2022, bà T, ông B còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”.
3. Đình chỉ giải quyết yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Văn Tiến O về việc buộc bà Phan Ngọc T, ông Văn Công B phải trả cho ông số vàng mượn là 20 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%).
4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản: Tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 745.500 đồng và chi phí định giá tài sản là 6.800.000 đồng, tổng cộng 7.545.500 đồng.
Nguyên đơn bà Phan Ngọc T đã nộp xong.
Bị đơn ông Văn Công B phải hoàn trả cho nguyên đơn bà Phan Ngọc T tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 372.750 đồng và chi phí định giá tài sản là 3.400.000 đồng, tổng cộng 3.772.750 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Phan Ngọc T, nếu ông Văn Công B không trả hoặc trả không đủ số tiền nêu trên cho bà T thì hàng tháng ông B còn phải trả tiền lãi cho bà T theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
5. Về án phí:
- Nguyên đơn bà Phan Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 9.106.034 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 5.300.000 đồng theo biên lai số 0003656 ngày 17 tháng 12 năm 2021 và biên lai số 0003908 ngày 17 tháng 8 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận; bà T còn phải nộp 3.806.304 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị đơn ông Văn Công B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 10.482.075 đồng.
- Hoàn trả lại cho bà Văn Thị H 2.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0003965 ngày 11 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.
- Ông Văn Tiến O không nhận lại tiền tạm ứng án phí, do khi nộp đơn yêu cầu độc lập ông Văn Tiến O thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên trước khi thụ lý được xem xét chấp nhận miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
- Ngân hàng chính sách xã hội - Phòng giao dịch huyện Vĩnh Thuận không nhận lại tiền tạm ứng án phí, do khi nộp đơn yêu cầu độc lập Ngân hàng thuộc diện không phải nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 11 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 23/12/2022).
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh KG; - VKS huyện, tỉnh; - Các Đ/s; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã BM; - Lưu (HSVA, VPTA). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Mỹ Linh |