vanban.org

Bản án 72/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thái Hòa, tỉnh Nghệ An Tuyên án 21/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HSST Nguyễn Trường Phú - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THÁI HOÀ
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2021/HS-ST
Ngày 31 tháng 12 năm 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân:1 – Ông Lê Hợp Huyên

2 – Ông Võ Chí Công

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Thương - Chức vụ: Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Thoa- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71 /2021/HSST ngày 16 tháng 12 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2021/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn T P; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 05 tháng 6 năm 1995 tại thị xã T H, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Khối Q, phường H, thị xã TH, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn K T, sinh năm 1963; Con bà: Trần Thị H, sinh năm 1973; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 23/9/2021, Nguyễn T P bị TAND Thị xã TH xử phạt 04 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2020, chưa được xóa án tích.

Bị cáo Nguyễn T P bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/10/2021 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+Anh Dương H P sinh năm 1995. Có mặt.

Trú tại: Khối T L, phường H, thị xã TH, tỉnh Nghệ An.

+ Anh Trần Q T, sinh năm 1972. Có mặt.

Trú tại; Khối T, phường H, thị xã TH, tỉnh Nghệ An.

+ Ông Trần V Q, sinh năm 1953. Vắng mặt.

Trú tại: Khối T, phường H, thị xã TH, tỉnh Nghệ An.

- Người chứng kiến:

Ông Dương Đ H, sinh năm 1960. Có mặt.

Trú tại: Khối T, phường H, thị xã TH, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/10/2021, Nguyễn T P một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOVO, màu trắng, biển kiểm soát 37x-54xxx từ phường H, thị xã TH đến khu vực cây xăng thuộc xã N, thị xã TH để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, Nguyễn T P hỏi tìm mua ma túy và mua được ma túy của một người đàn ông tên T (Nguyễn T P không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này) 01 gói ma túy được gói bằng ni lông trong suốt, có kích thước (1,5x 2)cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng là ma túy đá với giá 500.000đ (năm trăm ngàn đồng). Sau khi mua xong, P cất dấu gói ma túy vừa mua được vào túi quần bên phải mà P đang mặc rồi điều khiển xe mô tô về nhà ông Trần V Q ở khối T, phường H, thị xã TH, tỉnh Nghệ. Tại đây, P chia gói ma túy vừa mua được thành 02 phần. Một phần, Nguyễn T P gói bằng 01 gói ni lông màu trắng, kích thước (1 x 1)cm rồi đem cất dấu trên bờ tường, phía trước cổng nhà ông Trần V Q; phần còn lại Nguyễn T P để nguyên trong gói ni lông để chuẩn bị sử dụng. Ngay lúc đó có thì có anh Dương H P, sinh năm 1989, trú tại khối T, phường H, thị xã TH, tỉnh Nghệ An đến chơi. Nguyễn T P có đưa gói ma túy ra cho P thấy thì có tổ công tác Công an thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An vào kiểm tra. Nguyễn T P đã ném gói ma túy mà P đang cầm trên tay ra ngoài cửa sổ phía trước sân nhà. Tổ công tác đã yêu cầu P nhặt gói ma túy lên và giao nộp cho tổ công tác, sau đó Nguyễn T P đi ra phía bờ tường trước cổng nhà lấy 01 gói ma túy mà P cất dấu trước đó, tự nguyện giao nộp cho tổ công tác.

Tổ công tác công an thị xã Thái Hòa đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng, sau đó dẫn giải Nguyễn T P về trụ sở Công an thị xã Thái Hòa để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại lập hồi 22 giờ 05 phút ngày 27/10/2021 của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hòa xác định: sau khi loại bỏ bao bì, các hạt tinh thể trong suốt còn lại thu giữ của Nguyễn T P có tổng khối lượng là 0,66 gam (không phẩy sáu mươi sáu gam).

Kết luận giám định số 1452/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 02/11/2021 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu các hạt tinh thể trong suốt thu giữ của Nguyễn T P gửi tới giám định là ma túy ( Methamphetamine). Số hạt tinh thể trong suốt thu giữ của Nguyễn T P có tổng khối lượng là 0,66 gam (không phẩy sáu mươi sáu gam).

Quá trình điều tra vụ án, Nguyễn T P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 14/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà đã truy tố bị cáo Nguyễn T P về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Thái Hoà giữ nguyên quan điểm như đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38, điểm h khoản 1 điều 52 BLHS, tuyên bố bị cáo Nguyễn T P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn T P từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dông ®iÓm a, kho¶n 2, ®iÒu 106 - BLTTHS năm 2015 tÞch thu tiªu huû:

Một phong bì thư kích thước 10cm x18cm được niêm phong theo đúng quy định, bên trong chứa vỏ giấy niêm phong; 01(một) gói ni lông trong suốt kích thước (1,5x 2)cm và số hạt tinh thể trong suốt còn lại là 0,32 gam; 01 (một) gói ni lông màu trắng kích thước (1x1)cm và các hạt tinh thể trong suốt còn lại là 0,07gam.

Một phong bì thư kích thước (25x34)cm bên trong chứa 01(một) chai nhựa, trên nắp chai có đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa, một lỗ gắn ống thủy tinh, phía trên đầu cong có bầu và 01 (một) chiếc bật lửa màu đỏ.

Toàn bộ số vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi côc Thi hµnh ¸n d©n sù thÞ x· Th¸i Hßa theo biªn b¶n bµn giao vËt chøng ngµy 15 th¸ng 12 n¨m 2021.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thái Hoà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Thái Hoà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn T P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, người làm chứng trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa, từ đó đã có căn cứ xác định: Khoảng 16 giờ 30 ngày 27/10/2021, tại khu vực khối T, phường H,thị xã TH, tổ công tác công an thị xã Thái Hòa đã bắt quả tang Nguyễn T P có hành vi tàng trữ trái phép 0,66 gam (không phẩy sáu mươi sáu gam) ma túy đá (Methamphetamine) với mục đích sử dụng.

Hành vi của Nguyễn T P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là hết sức nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an chung tại địa phương, vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý chất ma túy. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Nguyễn T P phạm tội khi chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm. Vì vậy cần xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật. Tuy nhiên cũng xét cho bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 điều 51 - BLHS năm 2015, nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt. Tuy nhiên việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết nhằm cải tạo giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội phạm này theo quy định tại khoản 5 điều 249 BLHS, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản gì nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thái Hòa thu giữ: Một phong bì thư kích thước 10cmx18cm được niêm phong theo đúng quy định, bên trong chứa vỏ giấy niêm phong; 01 (một) gói ni lông trong suốt kích thước (1,5x2)cm ( ký hiệu là M1) có khối lượng 0,54gam (không phẩy năm mươi tư gam) ma túy Methamphetamine; 01(một) gói ni lông màu trắng kích thước (1x1)cm (ký hiệu M2) có khối lượng 0,12 gam (không phẩy mười hai gam) ma túy Methamphetamine. Đã lấy các hạt tinh thể trong gói ký hiệu M1để lấy mẫu giám định là 0,22gam và gói ký hiệu M2 là 0,05gam. Số ma túy còn lại trong gói ký hiệu M1 là 0,32gam và số ma túy còn lại trong gói ký hiệu M2 là 0,07gam. Toàn bộ được niêm phong và bảo quản đúng quy định, đây là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Một phong bì thư kích thước (25x34)cm bên trong chứa 01(một) chai nhựa, trên nắp chai có đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa, một lỗ gắn ống thủy tinh, phía trên đầu cong có bầu và 01 (một) chiếc bật lửa m àu đỏ. Đây là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy

VÒ ¸n phÝ: CÇn buéc bÞ c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA NOVO, màu trắng, biển kiểm soát 37x-54xxx mà Nguyễn T P mượn của anh Trần Q T. Anh T không biết P mượn xe để đi mua ma túy, vì vậy không xem xét.

- Đối anh Dương H P và ông Trần V Q không biết việc Nguyễn T P mua túy về sử dụng nên không xem xét.

- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn T P do không xác định được họ tên lai lịch cụ thể nên không có cơ sở để xử lý.

V× c¸c lÏ trªn.

quyÕt ®Þnh

1.Căn cứ vào điểm c, khoản 1, ®iÒu 249; §iÓm s, kho¶n 1, Điều 51; điểm h, khoản 1, điều 52; Điều 38- BLHS năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn T P phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý" . Xử phạt Nguyễn T P 21 ( Hai mươi mốt ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 10 năm 2021.

2. VÒ vËt chøng vô ¸n: Áp dông điểm c khoản 1 điều 47 BLHS năm 2015; ®iÓm a kho¶n 2 ®iÒu 106 - BLTTHS năm 2015 tuyªn tÞch thu tiªu huû:

01(một) phong bì thư kích thước 10cm x 18cm được niêm phong theo đúng quy định, bên trong chứa vỏ giấy niêm phong; 01 (một) gói ni lông trong suốt kích thước (1,5x2)cm; 01 (một) gói ni lông màu trắng kích thước (1x1)cm và số hạt tinh thể trong suốt còn lại trong gói thứ nhất có khối lượng 0,32gam (không phẩy ba mươi hai gam) và số hạt tinh thế trong suốt trong gói thứ 2 có khối lượng 0,07gam (không phẩy không bảy gam) ma túy Methamphetamine thu giữ của Nguyễn T P.

01 (một) phong bì thư kích thước (25x34)cm bên trong chứa 01(một) chai nhựa, trên nắp chai có đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa, một lỗ gắn ống thủy tinh, phía trên đầu cong có bầu và 01 (một) chiếc bật lửa màu đỏ.

Toàn bộ số vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi côc Thi hµnh ¸n d©n sù thÞ x· Th¸i Hßa theo biªn b¶n bµn giao vËt chøng ngµy 15 th¸ng 12 n¨m 2021.

3.Án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án (kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án). Buộc bị cáo Nguyễn T P phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ an trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ