vanban.org

Bản án 72/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Sơn Tây, TP. Hà Nội Tuyên án 18/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trịnh Thị Thu C 30.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do ngân hàng Nhà nước qui định đối với số tiền chậm thi hành án. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng); một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, số Imei 1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án đánh bạc có ba bị cáo - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trịnh Thị Thu C 30.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ SƠN TÂY - TP. HÀ NỘI
--------------------------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2021/HS-ST.
Ngày: 18 - 9 - 2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tú.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đào Huy Dương, bà Đào Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên toà: ông Lương Hữu Bình - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà NgôThị Minh Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2021/TLST – HS ngày 15 tháng 7 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2021/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Trịnh Thị Thu C, sinh năm 1974 tại thị xã L, tỉnh H; Nơi đăng ký thường trú: Số 20 Nguyễn Việt Hồng, Khu vực 5, phường Thuận an, thị xã L, tỉnh H; Tạm trú: Thôn Đoàn Kết, xã Cổ Đông, thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Tuấn M và bà Trần Thị N; Có chồng đã ly hôn và một con; Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 26/4/2021 đến ngày 02/5/2021; Bị cáo tại ngoại; có mặt.

Người có QLNVLQ: Chị Vũ Thị L, sinh năm 1983; Trú tại: Thôn T, xã C, Sơn Tây, Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 17giờ 30 ngày 26/4/2021, tại quán Cafe Miền Tây ở thôn Đoàn Kết-xã Cổ Đông- TX Sơn Tây, tổ công tác đội CSĐTTP về TTXH- CATX Sơn Tây phát hiện, bắt quả tang đối tượng Trịnh Thị Thu C có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề cho Quách Thị VA, Quách Thị NA.

Thu giữ:

Thu của Vũ Thị L: Số tiền 500.000đồng và một ĐTDĐ Iphone 8.

Thu của Quách Thị VA: Một ĐTDĐ Samsung Galaxy J2.

Thu của Quách Thị NA: Một ĐTDĐ Iphone 6.

Thu của Trịnh Thị Thu C: Một ĐTDĐ Oppo A9 2020, một ĐTDĐ Oppo F11. Ngoài ra, khi khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Trịnh Thị Thu C, Cơ quan điều tra còn thu giữ tại ngăn tủ gỗ để quần áo, loại tủ đứng hai cánh kê ở trong phòng ngủ phía bên phải đi từ cửa ra vào, số tiền: 27.944.000 đồng, thu tại ngăn kéo bàn bằng gỗ, kê ở khu vực bán hàng phía bên ngoài sát cửa ra vào, số tiền: 3.777.000 đồng.

Tại CQĐT- Công an TX Sơn Tây, Trịnh Thị Thu C và các đối tượng khai nhận: Trịnh Thị Thu C thuê nhà tại thôn Đoàn Kết- xã Cổ Đông- TX Sơn Tây để buôn bán mở quán Cafe Miền Tây. Vào khoảng tháng 3/2021, C có thuê chị Vũ Thị L làm nhân viên bán hàng, pha cafe, dọn dẹp quán. Quách Thị VA và Quách Thị NA là khách hàng thỉnh thoảng có đến uống nước tại quán nên quen biết nhau. Ngoài việc bán cafe, C còn bán số lô, số đề khi khách có nhu cầu, giao dịch bằng cách, khách đưa tiền trước, nhắn tin số lô, số đề muốn đánh qua zalo sau. Zalo của C là “Cỏ Hoa”, zalo của VA là “Bar boy” và zalo của Ánh là “Quách Ánh”.

Khoảng 16 giờ 20 ngày 26/4/2021, khi Trịnh Thị Thu C đang ở quán thì Quách Thị VA đi vào và hỏi mua số lô, số đề. C đồng ý. VA đưa cho C số tiền 3.000.000 đồng và hẹn nhắn các số đánh qua zalo. Sau đó, VA đi về, đến khoảng 16h30 cùng ngày, VA nhắn tin cho C với nội dung: “lo 818.62.50d”. C nhắn tin lại “ok”. C qui định mỗi điểm lô là 20.000 đồng, VA mua số lô 81, 18, 62 mỗi số 50 điểm, như vậy số tiền lô là 3.000.000 đồng.

Khoảng 17 giờ 10 cùng ngày, Quách Thị NA đến quán uống nước và nảy sinh ý định mua số lô số đề của C. Ánh đưa cho C số tiền 2.500.000 đồng và hẹn nhắn số đánh sau. C đồng ý, nhận tiền, sau đó một lúc thì C đi vào trong buồng riêng, đóng cửa để làm việc. Ánh ở ngoài nhắn tin zalo cho C: “ Lô 92,93 môi con 50 diem. Đê 92, 93 môi con 200k. Đê 91 100k”. C nhắn tin lại cho Ánh “ok”. C qui định mỗi điểm lô là 20.000 đồng, Ánh mua lô 92, 93 mỗi số 50 điểm; như vậy số tiền lô là 2.000.000 đồng; đề 91, 92 mỗi số 200.000 đồng và đề 91- 100.000 đồng, số tiền đề là 500.000đ. Tổng số tiền là 2,5 triệu đồng.

Đến khoảng 17h20 phút cùng ngày, VA quay lại quán cafe để mua thêm số đề, lúc này Quách Thị NA vẫn ngồi ở quán. VA nhắn tin zalo cho C “ De 81.82.83.84.85.100n.e vao cha tien sau nhe”. C nhận được tin nhắn hiểu VA muốn ghi thêm số đề 81, 82, 83, 84, 85 mỗi số 100.000 đồng và sẽ trả tiền sau nên nhắn tin trả lời “ok”. Sau đó, do không thấy C, VA đã đưa số tiền 500.000 đồng là tiền ghi số đề của C cho L để đưa cho C. L nhận tiền và nhắn tin cho C biết về việc có VA gửi 500.000 đồng. Đúng lúc này thì tổ công tác phát hiện, bắt quả tang.

Quá trình điều tra, Trịnh Thị Thu C còn khai nhận, C có ý định ghi số lô, số đề từ cuối năm 2019 nhưng không có khách. Đến ngày 26/4/2021, ghi được cho VA và Ánh thì lại bị bắt quả tang. Số tiền đánh bạc này, C sẽ giữ lại và không chuyển cho ai khác.

Tại cơ quan điều tra Trịnh Thị Thu C khai nhận thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKSPT ngày 13 tháng 7 năm 2021, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội truy tố C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo C cũng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây luận tội, giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố Trịnh Thị Thu C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo C từ 20 đến 25 triệu đồng.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 6.000.000 đồng bị cáo C đánh bạc với Quách Thị VA và Quách Thị NA mà có; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 03 chiếc điện thoại di động cơ quan điều tra đã thu giữ vì có liên quan đến hành vi đánh bạc; Đối với số tiền 26.221.000 đồng cơ quan điều tra thu giữ của C không liên quan đến vụ án nên trả lại cho C; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 màu đen thu của Vũ Thị L không liên quan đến vụ án nên trả lại cho Vũ Thị L, bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Sau khi nghe luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, bị cáo C không tự bào chữa, không tranh luận, đối đáp gì với đại diện Viện Kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Sơn Tây, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo C không có khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên toà, bị cáo Trịnh Thị Thu C đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ khẳng định:

Ngày 26/4/2021Trịnh Thị Thu C có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho Quách Thị VA và Quách Thị NA với tổng số tiền là 6.000.000đồng thì bị Cơ quan điều tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ được tiền C bán số lô, số đề và tin nhắn trên mạng Zalo giữa bị cáo C với Quách Thị VA và Quách Thị NA.

. Hành vi của Trịnh Thị Thu C đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho Quách Thị VA và Quách Thị NA tổng cộng số tiền là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng), đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Nên có đủ căn cứ khẳng định Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo C về tội danh và viện dẫn điều luật nêu trong cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo C là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa, gây mất trật tự tại địa phương, vì vậy cần phải xử bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Xét thấy, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo C có thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc không lớn, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo có nhân thân tốt, từ trước đến nay luôn chấp hành tốt các chính sách, pháp luật của Nhà nước, xử cho bị cáo hình phạt tiền theo Điều 35 của Bộ luật hình sự để thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm và ổn định cuộc sống.

. Về áp dụng hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dân lao động tự do, phạm tội lần đầu, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung.

. Đối víi Quách Thị VA và Quách Thị NA ®· cã hµnh vi ®¸nh b¹c d íi h×nh thøc mua sè l«, sè ®Ò cña C vào ngày 26/4/2021 là hành vi đánh bạc, nhưng chưa có kết quả xổ số Miền Bắc thì bị Công an bắt. Theo hướng dẫn tại điểm b mục 5.1 khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo thì xác định số tiền của Quách Thị VA sử dụng để đánh bạc là 3.500.000đồng và số tiền của Quách Thị NA dùng để đánh bạc là 2.500.000đồng. Số tiền Anh và Ánh đánh bạc đều mức dưới 5 triệu đồng, các đối tượng chưa bị kết án, chưa bị xử lý về hành vi Đánh bạc, Gá bạc, Tổ chức đánh bạc, nên hành vi của Anh và Ánh không cấu thành tội phạm. Công an thị xã Sơn Tây đã xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo đối với Anh và Ánh là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Vũ Thị L, là người đã cầm số tiền ghi số đề của VA chuyển cho C. Tuy nhiên, Lan không biết rõ đó là tiền gì, không thỏa thuận, không bàn bạc, không hưởng lợi từ việc C ghi số lô, số đề. Bản thân C cũng thừa nhận, chỉ thuê Lan bán hàng, pha cafe, dọn dẹp quán, Lan không biết việc C làm. Lan cầm hộ tiền là do lúc đó C đã vào buồng riêng, đóng cửa để làm việc. Vì vậy, hành vi của Lan không đủ cơ sở để đánh giá là đồng phạm với C.

. Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền thu giữ 32.221.000 đồng, trong đó xác định số tiền 6.000.000đồng là tiền C bán số lô số đề ngày 26/4/2021 cho Anh và Ánh mà có cần tịch thu nộp NSNN. Số tiền còn lại 26.221.000 đồng là tiền của gia đình bị cáo cần trả lại cho bị cáo vì không liên quan đến tội phạm.

Đối với chiếc điện thoại Iphone 8 của Lan dùng nhắn tin cho C về việc đã nhận số tiền 500.000đồng của VA nhưng Lan không biết là tiền gì nên không có căn cứ xử lý cần trả lại cho Lan.

Đối với chiếc một điện thoại SamSung Galaxy J2 của Quách Thị VA, một điện thoại Iphone 6 của Quách Thị NA và một điện thoại Oppo F11, là điện thoại C sử dụng để nhận tin nhắn ghi số lô, số với VA và NA cần tịch thu nộp NSNN.

Một điện thoại Oppo A9 2020, là điện thoại của C nhận tin nhắn của Lan, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho C.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Trịnh Thị Thu C 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng) về Tội đánh bạc để nộp ngân sách Nhà nước.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do ngân hàng Nhà nước qui định đối với số tiền chậm thi hành án.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng); một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, số Imei 1: 869874044447496, số Imei 2: 869874044447488, vỏ màu tím, bên trong lắp sim số: 0367.452.683; Một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2, số Imei 1: 355213096112016, số Imei 2: 355214096112014, vỏ màu vàng, bên trong lắp sim số: 0394.594.092 và một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, số Imei: 355394075893626, vỏ màu vàng, bên trong lắp sim số: 0343.004.216.

Trả lại bị cáo C 26.221.000đồng và một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 2020, số Imei: 866.967043002834, số Imei 2: 866967043002826, vỏ màu xanh, bên trong lắp sim số: 0978.435.772 và trả lại cho Vũ Thị L một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, số Imei: 356732081800425, vỏ màu đen, bên trong lắp sim số: 0973.829.735.

(Chi tiết vật chứng theo như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/7/2021 và Giấy ủy nhiệm chi ngày 14/7/2021 giữa Công an thị xã Sơn Tây và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội).

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo C phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ