- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Cù Thị H bị truy tố về tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cù Thị H1phạm tội “Đánh bạc”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ –––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72 /2021/HS-ST Ngày 16 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên tòa: Ông Bùi Xuân Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn số 56/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2021 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Cù Thị H1- sinh ngày 10 tháng 7 năm 1973 tại huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu 6, xã T, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cù Văn L(đã chết) và bà Trần Thị M, sinh năm 1936; chồng: Cù Minh P- sinh năm 1974; Con: Có 02 con (lớn 27 tuổi, nhỏ 25 tuổi); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/11/2021 đến ngày 14/11/2021 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã T, huyện Tam Nông,tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phan Đình H2, sinh năm 1967
Địa chỉ: Khu 4, xã T, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
2. Anh Cù Văn H3, sinh năm 1974
Địa chỉ: Khu 6, xã T, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
3. Anh Lê Đức T, sinh năm 1984
Địa chỉ: Khu 20, xã V, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
4. Anh Cù Văn H4, sinh năm 1996
Địa chỉ: Khu 7, xã T, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
(Anh H2, anh H3 có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T, anh Hiếu vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cù Thị H1 bắt đầu có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề từ ngày 09/11/2021 tại nhà ở khu 6, xã T, huyện Tam Nông. H1 ghi số lô, số đề cho những người chơi vào các ngày 09/11/2021 và 10/11/2021 nhưng không nhớ rõ tên tuổi, địa chỉ của những người này, H1 viết cáp đề đưa cho những người này và lập bảng đề tự theo dõi kết quả, không chuyển bảng đề cho ai, không có ai trúng thưởng nên H1 đã đốt hết các bảng đề này, trung bình mỗi ngày H1 thu lời bất chính số tiền 500.000đồng, tổng số tiền thu lời 1.000.000đồng. Cách thức ghi số lô, đề như sau: Các số lô, số đề là các số tự nhiên từ 00 đến 99, người chơi có thể ghi các số tự chọn với số tiền tùy ý. Đối với số đề: Nếu số đã ghi trùng với hai số cuối giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày, thì người ghi sẽ được hưởng số tiền gấp 70 lần số tiền đã ghi đề. Về số tiền ghi đề, khi T toán H1 sẽ khuyến mại cho người ghi tùy vào mối quan hệ quen biết 10% tổng số tiền đã ghi. Đối với số lô thì ghi theo điểm tính (mỗi điểm tính bằng 23.000đồng), nếu số đã ghi trùng với hai số cuối của tất cả các giải xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày thì người ghi được 80.000đồng/1 điểm lô, trường H3 số lô trùng nhiều lần trong các giải thì người ghi sẽ nhận số tiền tương ứng gấp số lần trùng nhau số lô đã mua (không quá 3 lần) nếu không trùng thì sẽ mất số tiền đã ghi.
Chiều ngày 11/11/2021 (từ 17 giờ đến 17 giờ 45 phút), H1 ghi số lô, số đề cho 04 người bằng hình thức đến ghi trực tiếp và nhắn qua tin nhắn điện thoại cụ thể là: Phan Đình H2 (sinh năm 1967, ở khu 4, xã T) đến ghi các số lô với tổng số tiền là 230.000đồng, Huệ đã T toán 200.000đồng còn nợ lại 30.000đồng; Cù Văn H3 (sinh năm 1974, ở khu 6, xã T) nhắn tin từ điện thoại số thuê bao 0386.652.534 đến số 0975.008.143 của H1 ghi các số lô với tổng số tiền là 276.000đồng, H1 nhắn tin lại “Ok” (tức là đồng ý), H3 chưa T toán số tiền trên; Lê Đức T (sinh năm 1984, ở khu 20, xã V) nhắn tin từ điện thoại số thuê bao 0979.472.055 đến số điện thoại 0975.008.143 của H1 ghi các số lô với tổng số tiền là 920.000đồng, H1 nhắn tin lại “Ok” (tức là đồng ý), T chưa T toán số tiền trên; Sau đó có Cù Văn H4 (sinh năm 1996, ở khu 7, xã T) đến ghi các số lô với tổng số tiền là 4.600.000đồng, Hiếu đã T toán đủ số tiền trên. H1 ghi các số lô, số đề của những người chơi vào cáp đề sau đó tổng H3 thành bảng đề để theo dõi và thống nhất ngày hôm sau sẽ tính toán thắng thua T toán với nhau, tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc với H1 ngày 11/11/2021 là 6.026.000đồng (Sáu triệu không trăm hai mươi sáu nghìn đồng). Đến 17 giờ 50 phút cùng ngày thì bị Tổ công tác của Công an huyện Tam Nông phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng của H1 gồm: Số tiền 4.930.000đồng (gồm số tiền 4.800.000đồng ghi số lô đã T toán ngày 11/11/2021 và số tiền 130.000đồng H1 thu lời do ghi số lô, số đề ngày hôm trước để lại); 02 cáp đề là một tờ giấy trắng có dòng kẻ bên trên mặt có ghi các số lô, số đề; 01 bút mực nước màu đen; 01 chiếc điện thoại Nokia 1202 màu đen có số thuê bao 0975.008.143. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Cù Thị H1 tại khu 6, xã T, nhưng không phát hiện, thu giữ gì liên quan đến hành vi đánh bạc của H1. Lời khai nhận của Cù Thị H1 phù H3 với nội dung khai thác cáp đề, kiểm tra dữ liệu điện thoại và lời khai của các đối tượng Phan Đình H2, Cù Văn H3, Lê Đức T và Cù Văn H4.
Quá trình điều tra, Cù Thị H1tự nguyện giao nộp số tiền 870.000đồng (số tiền còn thiếu của 02 ngày thu lời bất chính trước ngày bị bắt quả tang). Phan Đình H2 tự nguyện giao nộp số tiền 30.000đồng. Cù Văn H3 tự nguyện giao nộp số tiền 276.000đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, số thuê bao 0386.652.534. Lê Đức T tự nguyện giao nộp số tiền 920.000đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 210, số thuê bao 0979.472.055.
Đối với một số người lạ mặt đã ghi số lô, số đề của H1 trong 02 ngày nêu trên (theo lời khai nhận của H1), Cơ quan điều tra chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ của những người trên nên chưa có căn cứ để xử lý.
Đối với Phan Đình H2, Cù Văn H3, Lê Đức T và Cù Văn H4 là những đối tượng tham gia đánh bạc với H1 bằng hình thức ghi số lô, số đề nhưng số tiền các đối tượng tham gia đánh bạc đều chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, về nhân thân các đối tượng này đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về các hành vi đánh bạc, gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển đến Công an huyện Tam Nông ra quyết định xử phạt hành chính đối với các đối tượng trên.
Tại quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKSTN ngày 06 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Cù Thị H1 về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cù Thị H1 phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự đề nghị phạt đối với Cù Thị H1: từ 12 tháng đến 15 tháng Cải tạo không giam giữ.
Bị cáo được trừ 03 ngày tạm giữ (từ ngày 11/11/2021 đến ngày 14/11/2021) quy đổi thành 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã T, huyện Tam Nông nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện Tam Nông để giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối H3 với UBND xã T, huyện Tam Nông trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
Đề nghị khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ từ 05% đến 10% thu nhập 3.000.000đồng hàng tháng bằng 150.000đồng đến 300.000đồng hàng tháng để sung quỹ nhà nước. Trường H3 bị cáo không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.
- Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập thấp đã bị khấu trừ thu nhập nên không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu nộp ngân sách của nhà nước: Số tiền 7.026.000đồng (Bảy triệu không trăm hai mươi sáu nghìn đồng) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam (gồm số tiền 4.930.000đồng thu giữ của H1 trong quá trình bắt quả tang và H1 tự nguyện giao nộp 870.000đồng; Phan Đình H2 tự nguyện giao nộp 30.000đồng; Cù Văn H3 tự nguyện giao nộp 276.000đồng; Lê Đức T tự nguyện giao nộp 920.000đồng);
+ Tịch thu để bán nộp ngân sách của nhà nước: 03 (ba) chiếc điện thoại di động gồm: Nokia 1202 (của H1), Nokia 105 (của H3), Nokia 210 (của T).
+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) bút mực nước màu đen và 03 (ba) sim số điện thoại gồm: 0975.008.143 (của H1), 0386.652.534 (của H3), 0979.472.055 (của T).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính H3 pháp của các hành vi, quyết định tố tụng Cơ quan Điều tra Công an huyện Tam Nông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều H3 pháp.
. Về hành vi cấu thành tội phạm của bị cáo:
Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù H3 với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, phù H3 với biên bản phạm pháp quả tang của cơ quan điều tra và vật chứng đã thu được, phù H3 với các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 09/11/2021 và ngày 10/11/2021, Cù Thị H1đã có hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền thông qua hình thức ghi số lô, số đề với một số đối tượng không rõ tên tuổi, địa chỉ, nhằm thu lời bất chính với tổng số tiền: 1.000.000đồng (một triệu đồng). Ngày 11/11/2021, Cù Thị H1đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức ghi số lô, số đề cho Phan Đình H2, Cù Văn H3, Lê Đức T, Cù Văn H4, tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc là 6.026.000đồng (sáu triệu không trăm hai mươi sáu nghìn đồng). Khi H1 đang có hành vi vi phạm pháp luật trên thì bị Công an huyện Tam Nông phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Như vậy, Cù Thị H1đã có hành vi đánh bạc trái phép, được thua bằng tiền, dưới hình thức ghi số lô, số đề với số tiền là 6.026.000đồng đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc.
Hành vi nêu trên của Cù Thị H1đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
. Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác cũng như ảnh hưởng đến kinh tế và hạnh phúc gia đình, nhưng vì mục đích tư lợi nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội.
. Xét về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo H1 thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu thuộc trường H3 ít nghiêm trọng, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo H1 còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là bố đẻ bị cáo là ông Cù Văn Lvà bố chồng bị cáo là ông Cù Văn L đều được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba.
Vì vậy căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cùng các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy có thể áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo Điều 36 Bộ luật hình sự cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ là 05% thu nhập hàng tháng là 3.000.000đồng bằng 150.000đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) hàng tháng để sung quỹ nhà nước. Trường H3 bị cáo không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần là phù H3.
Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh tại cơ quan điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập thấp đã bị khấu trừ thu nhập nên không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo là phù H3.
Đối với một số người lạ mặt đã ghi số lô, số đề của Hạnh trong 02 ngày nêu trên (theo lời khai nhận của H1), Cơ quan điều tra chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ của những người trên nên chưa có căn cứ để xử lý là phù H3.
Đối với Phan Đình H2, Cù Văn H3, Lê Đức T và Cù Văn H4 là những đối tượng tham gia đánh bạc với H1 bằng hình thức ghi số lô, số đề nhưng số tiền các đối tượng tham gia đánh bạc đều chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, mặt khác các đối tượng này nhân thân đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án về các hành vi đánh bạc, gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển đến Công an huyện Tam Nông ra quyết định xử phạt hành chính đối với các đối tượng trên là phù H3 với quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền 7.026.000đồng (Bảy triệu không trăm hai mươi sáu nghìn đồng) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam (gồm số tiền 4.930.000đồng thu giữ của H1 trong quá trình bắt quả tang và H1 tự nguyện giao nộp 870.000đồng; Phan Đình H2 tự nguyện giao nộp 30.000đồng; Cù Văn H3 tự nguyện giao nộp 276.000đồng; Lê Đức T tự nguyện giao nộp 920.000đồng); là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách của nhà nước.
- Đối với 03 chiếc điện thoại di động: 01 chiếc nhãn hiệu NOKIA 1202 màu đen, số Sêri: 357979039100619 của bị cáo H1; 01 chiếc nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen, số Sêri1: 353119110257657, số Sêri2: 353119115257652 của Cù Văn H3; 01 chiếc nhãn hiệu NOKIA 210 màu đen, số Sêri1: 352879103275930, số Sêri2: 352879103775939 của Lê Đức T là vật chứng của vụ án và là công cụ, phương tiện các đối tượng đánh bạc nên tịch thu để bán nộp ngân sách của nhà nước.
- Đối với 01 (một) bút mực nước màu đen và 03 (ba) sim số điện thoại gồm: 0975.008.143 (của H1), 0386.652.534 (của H3), 0979.472.055 (của T) là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng cần tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với 02 cáp đề đã thu giữ là vật chứng được lưu trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: Buộc Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù H3 nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 36; điểm a, b khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Cù Thị H1phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt bị cáo Cù Thị H1: 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ.
Bị cáo được trừ 03 ngày tạm giữ (từ ngày 11/11/2021 đến ngày 14/11/2021) quy đổi thành 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã T, huyện Tam Nông nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện Tam Nông để giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối H3 với UBND xã T, huyện Tam Nông trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại điều 99, 100, 101 Luật thi hành án hình sự.
Khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ là 150.000đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) hàng tháng để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng. Số tiền bị cáo phải nộp khấu trừ thu nhập tương ứng với thời gian mà bị cáo phải chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Trường H3 bị cáo không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.
- Hình phạt bổ sung: không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu nộp ngân sách của nhà nước số tiền 7.026.000đồng (Bảy triệu không trăm hai mươi sáu nghìn đồng) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam (gồm số tiền 4.930.000đồng thu giữ của H1 trong quá trình bắt quả tang và H1 tự nguyện giao nộp 870.000đồng; Phan Đình H2 tự nguyện giao nộp 30.000đồng; Cù Văn H3 tự nguyện giao nộp 276.000đồng; Lê Đức T tự nguyện giao nộp 920.000đồng);
(Hiện đang tạm giữ tại tài khoản số: 3949.0.1053898.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông theo giấy ủy nhiệm chi ngày 16/12/2021)
- Tịch thu để bán nộp ngân sách nhà nước:
+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1202 màu đen, Số Sêri: 357979039100619 của bị cáo Cù Thị H1;
+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen, Số Sêri1: 353119110257657, Số Sêri2: 353119115257652 của Cù Văn H3;
+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 210 màu đen, Số Sêri1: 352879103275930, Số Sêri2: 352879103775939 của Lê Đức T.
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) bút mực nước màu đen và 03 (ba) sim số điện thoại gồm: 0975.008.143 (của H1), 0386.652.534 (của H3), 0979.472.055 (của T).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện Tam Nông và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông ngày 07/12/2021)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Cù Thị H1phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng điều 26 Luật thi hành án dân sự, bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự, nếu không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 7a, điều 9 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ; - Công an huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ; - THAHS, DS huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ; - Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ; - UBND xã T, huyện Tam Nông; - Bị cáo; - Người có QL, NV liên quan; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thơm |