vanban.org

Bản án 72/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 05/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Trần Minh T 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Minh T 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN NHÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 72/2021/HS-ST
Ngày 05-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đặng Thị Mỹ Hường;

Ông Trần Thanh Việt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án, của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Anh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2021/QĐXXST-HS, ngày 22 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần Minh T, sinh ngày 03 tháng 11 năm 1981 tại huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1962; bị cáo có vợ là Võ Thị N, sinh năm 1981 và có 01 con sinh năm 2010; tiền án: Không; tiền sự: Không;

Nhân thân: Nhỏ đến lớn sống chung với cha mẹ tại huyện LV, tỉnh Đồng Tháp, đi học đến hết lớn 11 thì nghỉ; sau đó học nghề lái xe. Năm 2020 lái xe cho Công ty TNHH H.

Trong vụ án này bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30 tháng 3 năm 2021 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Trần Thị Thanh N, sinh năm 1968 (Đã chết)

Đại diện hợp pháp của bị hại:

1/ Ông Trần Hữu N, sinh năm 1960. Địa chỉ: khóm Đ, phường MX, thành phố LX, tỉnh An Giang (anh ruột);

2/ Bà Trần Thị Lệ T, sinh năm 1963. Địa chỉ: khóm M, phường P, thành phố LX, tỉnh An Giang (chị ruột);

3/ Bà Trần Thị Thanh Th, sinh năm 1965. Địa chỉ: khóm M, phường P, thành phố LX, tỉnh An Giang (chị ruột);

4/ Ông Trần Hữu T, sinh năm 1976. Địa chỉ: khóm M, phường P, thành phố LX, tỉnh An Giang (em ruột);

Người đại diện theo ủy quyền của ông N, bà T, bà Th: Ông Trần Hữu T (Theo Giấy ủy quyền được Ủy ban nhân dân phường MP chứng nhận ngày 20/4/2021) (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Công ty trách nhiệm hữu hạn H (Vắng mặt);

Địa chỉ: phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Do ông Thiều Thanh Q - Giám đốc đại diện theo pháp luật;

2/ Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng TMCP C (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tầng 10-11, tòa nhà 126 Đội Cấn, quận B, thành phố Hà Nội;

3/ Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1962 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp

Người làm chứng: Ông Trần Hữu H, sinh năm 1991 (Vắng mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Minh H, luật sư của Văn phòng Luật sư Minh Hiếu thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp. Địa chỉ liên hệ: Quốc lộ 80, khóm B, thị trấn LV, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 30 tháng 3 năm 2021, Trần Minh T có giấy phép lái xe hạng E điều khiển xe ôtô khách giường nằm (02 chỗ ngồi và 41 giường nằm) nhãn hiệu Thaco biển số 67B-008.19 của Công ty trách nhiệm hữu hạn H (gọi tắt là Công ty TNHH H) trên đường Phạm Cự Lượng, phường Mỹ Quý thành phố Long Xuyên theo hướng từ bến xe khách Long Xuyên ra đường Trần Hưng Đạo. Khi đến ngã ba có đèn tín hiệu giao nhau với đường Trần Hưng Đạo thì T dừng xe do đèn tín hiệu màu đỏ. Khi đèn tín hiệu chuyển sang màu xanh T điều khiển xe ô tô 67B-008.19 rẽ phải khoảng 03m, do không chú ý quan sát nên cảng xe phía trước bên phải đụng vào người bà Trần Thị Thanh N đang dẫn xe đạp phía trước cùng chiều, trên ghi đông có treo 02 giỏ đựng vỏ dừa (trọng lượng 34kg) làm bà N ngã xuống đường bị bánh trước bên phải xe ô tô 67B-008.19 cán lên chết tại chỗ. Ngay sau đó, T đến Công an phường Mỹ Quý đầu thú.

* Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (một) xe ô tô khách nhãn hiệu Thaco biển số 67B-008.19; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tên Công ty TNHH H; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô tên Công ty TNHH H; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe ô tô biển số 67B-008.19; 01 (một) giấy phép lái xe hạng E tên Trần Minh T hết hạn vào ngày 31 tháng 8 năm 2022.

- 01 (một) xe đạp;

- 01 (một) đĩa CD nhãn hiệu DVC bên trong chứa đoạn video dung lượng 43,9 MB do chị Nguyễn Thị Mỹ Duyên là quản lý của nhà thuốc Trung Sơn giao nộp.

* Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 30 tháng 3 năm 2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên ghi nhận như sau:

- Hiện trường xảy ra tại ngã ba giao nhau giữa đường Phạm Cự Lượng đường Trần Hưng Đạo, thuộc tổ 3, khóm Mỹ Qưới, phường Mỹ Quý, thành phố Long Xuyên. Đường Phạm Cự Lượng là đường hai chiều, mặt đường được tráng bê tông nhựa rộng 13,7m, có vạch kẻ phân công làn đường. Đường Trần Hưng Đạo là đường đôi có dải phân cách cố định, mặt đường trán bê tông nhựa rộng 17m. Lấy trụ điện số 5/571 trên lề phải đường Phạm Cự Lượng hướng từ bến xe khách Long Xuyên ra đường Trần Hưng Đạo làm điểm mốc cố định. Lấy mép đường bên phải đường Phạm Cự Lượng hướng từ bến xe khách Long Xuyên ra đường Trần Hưng Đạo làm chuẩn.

- Xe ô tô biển số 67B-008.19 sau tai nạn đầu xe hướng về đường Trần Hưng Đạo lệch về phía Vàm Cống, đuôi xe hướng về bến xe khách Long Xuyên, tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn 2,2m, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 2,8m và cách tâm trục bánh sau xe đạp 2,8m.

- Xe đạp sau tai nạn ngã về bên phải nằm trên mặt đường, đầu xe hướng về đường Trần Hưng Đạo lệch về hướng đèn 04 ngọn, đuôi xe hướng về bến xe khách Long Xuyên lệch về mép đường chuẩn, tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn 2,6m và cách đỉnh đầu của nạn nhân 2,9m, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 2m.

- Nạn nhân sau tai nạn nằm dưới gầm phía trước bánh xe bên phải xe ô tô biển số 67B-008.19, tư thế nằm úp, đầu nạn nhân hướng về phía Vàm Cống, chân nạn nhân hướng về đèn 4 ngọn, đỉnh đầu nạn nhân cách mép đường chuẩn 2,1m, khoảng cách giữa hai gót nạn nhân cách mép đường chuẩn 2,5m, đỉnh đầu nạn nhân cách tâm trục bánh trước xe ô tô biển số 67B-008.19 0,4m.

- Đèn tín hiệu giao thông nằm trên lề chuẩn, tâm cách trục bánh sau bên phải xe ô tô biển số 67B-008.19 là 8,2m.

* Các biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 31 tháng 3 năm 2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên ghi nhận như sau:

- Đối với xe ô tô biển số 67B-008.19:

+ Đầu cảng xe phía trước bên phải có vết xước sơn màu trắng theo chiều hường từ trước ra sau, kích thước 5 x 5cm.

+ Cửa xe phía trước bên phải có vết xước sơn màu trắng chiều hướng từ trước ra sau kích thước 90 x 0,1cm, tâm cách mặt đất 52cm.

+ Mặt ngoài lốp xe phía trước bên phải có vết trượt dính lông tóc, kích thước 5 x 2cm, đầu vết trượt cách chữ X của hàng chữ XMULT 47cm, đuôi vết trượt cách chữ N của hàng chữ MICHELIN 16cm, tâm vết trượt cách tâm trục bánh xe 54cm.

+ Mặt ngoài phía dưới của hầm xe thứ 02 bên phải có vết xước sơn từ trước ra sau, kích thước 30 x 0,5cm, cách mặt đất 28cm.

+ Thanh kim loại dưới gầm xe phía trước bên phải có vết lau sạch bụi từ trước ra sau, kích thước 20 x 04cm, đầu vết lau cách thanh kim loại ngang 04cm, tâm vết lau cách đất 46cm.

+ Thanh kim loại phía dưới gầm xe phía trước bên phải có vết lau sạch bụi, kích thước 20 x 6cm, tâm cách mặt đất 42cm.

- Đối với xe đạp:

+ Khung vành xe phía trước cong biến dạng không rõ hình dáng;

+ Chốt cố định bàn đạp bên trái có dính vết màu trắng, kích thước 01 x 01cm, tâm cách đầu trục bàn đạp 02cm.

Đầu ốc cố định gác baga phía sau bên trái có dính vết màu trắng kích thước 0,1 x 0,2cm.

* Phiếu đo nồng độ cồn ngày 30 tháng 3 năm 2021 của Công an thành phố Long Xuyên đối với Trần Minh T ghi nhận: Nồng độ cồn là 0,000 mg/1 lít khí thở.

* Phiếu xét nghiệm nước tiểu ngày 30 tháng 3 năm 2021 của Trung tâm y tế thành phố Long Xuyên đối với Trần Minh T xác định: T âm tính với Methamphetamine, Heroin/Morphine, Ketamine, MDMA.

* Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 64/21/TT ngày 30 tháng 3 năm 2021 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang đối với Trần Thị Thanh N, sinh năm 1968, xác định như sau:

Dấu hiệu chính qua giám định: Chảy máu 02 lỗ tai – mũi. Biến dạng vùng đầu mặt. Gãy phức tạp 02 xương gò má, xương chính mũi, xương hàm trên và hàm dưới; vết hằn dạng hoa văn bánh xe vùng chẩm - cổ - vai phải - lưng trái; bầm tụ máu dưới da toàn bộ hộp sọ; nứt vỡ phức tạp toàn bộ hộp sọ. Phòi mô não.

Nguyên nhân chết: Nứt vỡ phức tạp toàn bộ hộp sọ. Phòi mô não.

* Kết luận giám định số 95 ngày 28 tháng 4 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang xác định: Trích xuất 48 ảnh từ dữ liệu tập tin video lưu trữ trong 01 đĩa CD nhãn hiệu DVC được niêm phong trong phong bì màu trắng dán kín, bên ngoài có chữ ký, chữ viết mang tên Hồ Văn Công, Nguyễn Thị Mỹ Duyên và dấu tròn màu đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên.

* Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 86 ngày 29 tháng 4 năm 2021 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên xác định: xe đạp không nhãn hiệu bị hư hỏng, thiệt hại 900.000 đồng.

Cáo trạng số 67/CT-VKS, ngày 28 tháng 5 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo Trần Minh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông”.

Về hình phạt bổ sung: Cấm hành nghề đối với bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày bị cáo chấp hành xong bản án.

Về xử lý vật chứng: Tạm giữ giấy phép lái xe hạng E tên Trần Minh T (hết hạn vào ngày 31/8/2022) để bảo đảm cho việc thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không khiếu nại gì đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố. Bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện của bị hại gồm ông Trần Hữu N, ông Trần Hữu T, bà Trần Thị Lệ T, bà Trần Thị Thanh Th vắng mặt nhưng quá trình điều tra ông Trần Hữu T đại diện trình bày: Các ông, bà là anh, chị, em ruột của bà Trần Thị Thanh N. Cha mẹ bà N đã chết, bà N không có chồng con. Ông T là đại diện theo ủy quyền của các anh, chị đã nhận 120.000.000đồng do Công ty TNHH H bồi thường thiệt hại, 10.000.000đồng là do bà Nguyễn Thị B (mẹ ruột của T) bồi thường thiệt hại nên không yêu cầu bồi thường thêm và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho T.

Người làm chứng ông Trần Hữu H vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra lời khai thể hiện: Ông là phụ xế ôtô 67B-008.19 của Công ty TMHH H, có nhiệm vụ đón khách, thông báo điểm đến, điểm dừng cho khách. Ngày 30 tháng 3 năm 2021 T điều khiển xe ôtô 67B-008.19 qua ngã ba đèn có tín hiệu giao nhau giữa đường Phạm Cự Lượng với đường Trần Hưng Đạo thì ông thấy người dân trên đường ra hiệu có tai nạn nên bảo T dừng xe lại. Ông xuống xe thì thấy bà N đã chết nằm dưới gầm, sát bánh trước xe ôtô.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH H vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra lời khai thể hiện: T là tài xế xe của Công ty TNHH H. Sau vụ tai nạn công ty đã nhận lại xe ô tô biển số 67B-008.19 và giấy tờ xe. T là lái xe làm việc cho Công ty TNHH H theo hợp dồng lao động nên Công ty TNHH H đã bồi thường 120.000.000đồng cho ông T (đại diện bị hại) và không yêu cầu T hoàn trả số tiền này, không yêu cầu T bồi thường thiệt hại xe ôtô biển số 67B-008.19 bị hư hỏng. Đồng thời, trước đây công ty có yêu cầu Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiềm Ngân hàng TMCP C tham gia để bồi thường về trách nhiệm dân sự nhưng hiện nay giữa công ty và công ty bảo hiểm đã thỏa thuận bồi thường trách nhiệm dân sự bên ngoài nên không yêu cầu nữa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra lời khai thể hiện: Bà là mẹ ruột của T. T tác động bà bồi thường 10.000.000đồng cho ông Tiến (đại diện bị hại) và bà không yêu cầu T hoàn trả số tiền này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiềm Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam vắng mặt nhưng có văn bản trình bày ý kiến: Đề nghị Tòa án xem xét đầy đủ các ý kiến, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên theo quy định pháp luật. Đồng thời yêu cầu được vắng mặt trong phiên tòa xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt; tuy nhiên quá trình điều tra lời khai đã được làm rõ. Đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên căn cứ vào khoản 1 Điều 292 và khoản 2 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án. Riêng đối với người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất nhưng bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa nên căn cứ vào khoản 1 Điều 291 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 08 giờ 30 ngày 30 tháng 3 năm 2021 bị cáo Trần Minh T điều khiển xe ô tô khách giường nằm biển số 67B-008.19 của Công ty TNHH H trên đường Phạm Cự Lượng, phường Mỹ Quý, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang theo hướng từ bến xe khách Long Xuyên ra đường Trần Hưng Đạo. Khi đến ngã ba có đèn tín hiệu giao nhau với đường Trần Hưng Đạo thì T dừng xe do đèn tín hiệu màu đỏ. Khi đèn tín hiệu chuyển sang màu xanh T điều khiển xe ô tô 67B-008.19 rẽ phải khoảng 03m, do không chú ý quan sát nên cảng xe phía trước bên phải đụng vào người bà Trần Thị Thanh N đang dẫn xe đạp phía trước cùng chiều, trên ghi đông có treo 01 giỏ đựng vỏ dừa (trọng lượng 34kg) làm bà N ngã xuống đường bị bánh trước bên phải xe ô tô 67B-008.19 cán lên chết tại chỗ.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 64/21/TT ngày 30 tháng 3 năm 2021 của Trung Tâm y tế tỉnh An Giang xác định bà N chết do: Nứt vỡ phức tạp toàn bộ hộp sọ. Phòi mô não.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Sự thừa nhận này phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc điều khiển xe ô tô nếu thiếu quan sát có thể sẽ gây nguy hiểm cho người khác nhưng vẫn tự tin điều khiển xe như nội dung vụ án hậu quả dẫn đến đã gây tai nạn khiến bà N chết tại chỗ. Như vậy, cáo trạng số 67/CT-VKS, ngày 28 tháng 5 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện bồi thường thiệt hại; đầu thú; đại diện bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, đề nghị của Viện kiểm sát thành phố Long Xuyên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và hưởng tình tiết giảm nhẹ “đầu thú” “đại diện bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo” quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ nên được chấp nhận.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ làm thiệt hại đến tình mạng của người khác, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn công cộng. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm để giáo dục ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống. Giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong đó có tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, căn cứ vào Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử sẽ xem xét cho bị cáo được hưởng án treo đối với mức hình phạt mà bị cáo phải chịu.

Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo hành nghề lái xe 01 (một) năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại xác định đã nhận số tiền bồi thường 130.000.000đồng (Trong đó: Của gia đình bị cáo là 10.000.000đồng và của Công ty TNHH H là 120.000.000đồng) nên không yêu cầu bồi thường thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại.

Đối với số tiền 10.000.000đồng bà Bông mẹ ruột của bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại và 120.000.000đồng Công ty TNHH H bồi thường cho gia đình bị hại. Bà Bông và công ty không yêu cầu bị cáo trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm bồi thường bảo hiểm giữa Công ty TNHH H và Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng TMCP C. Các bên không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử cũng không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với các vật chứng bị thu giữ trong quá trình điều tra gồm: 01 (một) xe ô tô khách biển số 67B-008.19; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 67B-008.19, số: 003246; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật TNDS của chủ xe ô tô biển số 67B-008.19, số XC.2.1 180050543 đã được giao trả cho Công ty TNHH H và 01 (một) xe đạp bị hư hỏng sau tai nạn giao thông của bà N đã được giao trả lại cho gia đình bà N nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với giấy phép lái xe hạng E tên Trần Minh T (hết hạn vào ngày 31/8/2022) sẽ tạm giữ cho đến khi bị cáo chấp hành xong hình phạt bổ sung.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trần Minh T 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Trần Minh T nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Trần Minh T hành nghề lái xe 01 (một) năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tạm giữ giấy phép lái xe hạng E số 890092001924 tên Trần Minh T có giá trị đến 31 tháng 8 năm 2022 (Hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Điều tra Công an thành phố Long Xuyên và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, ngày 10/6/2021) cho đến khi bị cáo chấp hành xong hình phạt bổ sung. Sau khi chấp hành xong hình phạt bổ sung bị cáo được liên hệ cơ quan thi hành án có thẩm quyền để nhận lại giấy phép lái xe nêu trên.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Minh T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ