vanban.org

Bản án 72/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 14/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo V V Th phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s,p khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: V V Th 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "V V Th phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo V V Th phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T D
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2021/HS-ST
Ngày 14/9/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Moong Công Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Khăm Niên

Ông Lô Văn Giáp

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Ái - Thư ký Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: V V Th, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 01 tháng 7 năm 1974 tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản C R 2, xã X L, huyện T D, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông V Th B (Đã chết) và con bà V Th Th B; Vợ: L Th H, con: Có 03 con; Tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: Năm 2008 bị Tòa án nhân dân huyện K S, tỉnh Nghệ An xử phạt 08 năm tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09 tháng 6 năm 2021 đến nay. Có mặt

- Người chứng kiến: Anh L V N. Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 08/6/2021 khi V V Th đang ở nhà tại bản C R 2, xã X L, huyện T D, tỉnh Nghệ An thì lên cơn nghiện ma túy. Th liền thuê xe lai của một người đàn ông không quen biết đi từ bản C R 2, xã X L, huyện T D đến bản X M, xã L M, huyện T D để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến khu vực cầu X M, xã L M, huyện T D, V V Th nói người xe lai đứng chờ rồi đi bộ một mình lên đồi. Đi được khoảng 100 mét thì gặp một người đàn ông lạ mặt một gói ma túy đá với giá 100.000 đồng. Mua xong, Th quay lại chỗ người xe lai đang chờ rồi đi về nhà.

Đến 17 giờ ngày 09/6/2021, khi V V Th đang ở nhà tại bản C R 2, xã X L, huyện T D thì bị công an huyện T D bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần bên trái của Th một gói bằng bao potylen màu trắng nên trong chứa tinh thể rắn màu trắng. V V Th khai nhận tinh thể rắn màu trắng là ma túy Th mua về để sử dụng.

Kết luận giám định số: 926/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 14/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An xác định: Tinh thể rắn màu trắng thu giữ của V V Th gửi tới giám định là ma tuý (Methamphetamine), có khối lượng 0,15 (Không phẩy mười lăm) gam.

Bản Cáo trạng số 89/CT-VKS-TD ngày 25 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An đã truy tố V V Th về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s,p khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: V V Th 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho cho bị cáo; xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo V V Th đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào 17 giờ ngày 09/6/2021, tại nhà ở của mình tại bản C R 2, xã X L, huyện T D, tỉnh Nghệ An V V Th đã có hành vi tàng trữ trái phép 0.15 gam Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T D đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu nên khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân phạm tội của bị cáo.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thái độ khai báo của bị cáo là thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo là người khuyết tật nặng nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s,p khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và lượng hình ở mức đề nghị của kiểm sát viên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật

Người đàn ông xe lai đã chở bị cáo đi mua ma túy và người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo không rõ lai lịch nên cơ quan cảnh sát điều tra chưa có cơ sở để điều tra làm rõ.

Xử lý vật chứng: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án.

Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người khuyết tật nặng nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố bị cáo V V Th phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s,p khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: V V Th 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2021.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận số 110 ngày 26.8.2021 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T D, tỉnh Nghệ An);

- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo V V Th.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 14/9/2021.

Cỡ chữ