- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN PHI L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi L (tên gọi khác: M) 11 (mười một) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 10/01/2021.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2021/HS-ST Ngày 08-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hồ Thị Mỹ Phượng;
2. Bà Trần Thị Bạch Tuyết.
-Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trúc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Đăng Kha - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Phi L (tên gọi khác: M), sinh năm 1988 tại tỉnh N; nơi cư trú: Ấp Đ, xã V, huyện B, tỉnh N; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Svà bà Giản Thị Kim T; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Có 01 tiền án, tại Bản án số 33/2014/HS-ST ngày 16/5/2014, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh N tuyên phạt Nguyễn Phi L 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phí và số tiền truy tịch thu ngày 25/6/2015 (theo Giấy xác nhận kết quả thi hành án số 158 ngày 23/3/2021) và chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/5/2020 (theo Giấy chứng nhận số 371 ngày 27/5/2020 của Trại giam C), chưa được xóa án tích; tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/01/2021 đến ngày 13/01/2021 chuyển sang tạm giam cho đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1969; nơi cư trú: Ấp Đ, xã V, huyện B, tỉnh N; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Phi L là người nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng và tiền tiêu xài cá nhân, từ đầu năm 2021 đến ngày 10/01/2021, L đã 02 lần mua ma túy tại khu vực ngã tư M, thành phố N, tỉnh N của người tên H nhà ở huyện B, tỉnh N với số tiền 250.000 đồng và 300.000 đồng. Sau khi có được ma túy, L chia ra thành nhiều bịch nhỏ để sử dụng và bán lại cho nhiều người nghiện khác trên địa bàn huyện Tân Biên. Vào lúc 22 giờ 00 phút ngày 10/01/2021, tại ấp Đ, xã V, huyện B, tỉnh N, khi L đang bán 01 bịch ma túy với số tiền 200.000 đồng cho Nguyễn Văn H sinh năm 2000 ngụ ấp 01, xã C, huyện B, tỉnh N và Nguyễn Thanh V sinh năm 2003, ngụ ấp 02, xã V, huyện B, tỉnh N thì bị Công an huyện Tân Biên phối hợp Công an xã Trà Vong bắt quả tang thu giữ 01 (một) bịch ny lon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng để trong gói thuốc lá hiệu Jet trong túi quần Jean phía trước bên phải của Nguyễn Thanh V (ký hiệu M1).
Ngoài lần bị bắt quả tang, Nguyễn Phi L còn bán ma túy nhiều lần cho những người khác, cụ thể như sau:
Bán cho Nguyễn Văn H và Nguyễn Thanh V 03 lần với số tiền 700.000 đồng.
Bán cho Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1994 ngụ ấp 2, xã V, huyện B, tỉnh N 02 lần với số tiền 500.000 đồng.
* Kết quả trưng cầu giám định: Kết luận giám định số 45/KL-KTHS ngày 14 tháng 01 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) bịch nylon được hàn kín (kí hiệu M1) gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,0336 gam.
Quá trình điều tra, Nguyễn Phi L chỉ thừa nhận hành vi bán ma túy khi bị bắt quả tang, không thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy của mình trước đó nhưng có đủ căn cứ chứng minh hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Phi L.
* Kết quả thu giữ, xử lý vật chứng:
- Vật chứng thu giữ:
+ 01 (một) bịch nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng thu giữ trong gói thuốc lá Jet cất giấu trong túi quần Jean bên phải phía trước của Nguyễn Thanh V đã được niêm phong, ký hiệu M1;
+ 01 (một) xe mô tô nãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, biển số 70H1-45607, số máy G3D4E1012864, số khung RLCUG1010KY241833;
+ 01 (một) điện thoại di động Nokia màu xanh có số Imei: 354198198101062820 và sim số 0969677152; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, số Imel: 866269040043816; 01 (một) kéo bằng kim loại; 01 (một) hột quẹt ga;
+ Tiền Việt Nam 320.000 (ba trăm hai mươi nghìn) đồng.
- Kết quả xử lý vật chứng:
+ Tại Quyết định xử lý vật chứng số 10/QĐ-ĐCSMT ngày 05/3/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên và Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 05/3/2021 đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, biển số 70H1-45607, số máy G3D4E1012864, số khung RLCUG1010KY241833 cho chủ sở hữu là anh Bùi Thanh Giang;
+ 0,0336 (không phẩy không ba ba sáu) gam chất ma túy trong gói niêm phong ký hiệu M1 đã được sử dụng hết trong công tác giám định.
- Vật chứng còn tạm giữ:
+ 01 (một) điện thoại di động Nokia màu xanh có số Imei: 354198198101062820 và sim số 0969677152; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, số Imel: 866269040043816; 01 (một) kéo bằng kim loại; 01 (một) hột quẹt ga;
+ Tiền Việt Nam 320.000 (ba trăm hai mươi nghìn) đồng.
* Kê biên tài sản: Bị cáo Nguyễn Phi L không có tài sản riêng nên Cơ quan cảnh sát Điều tra công an huyện Tân Biên không tiến hành kê biên.
* Đối với Nguyễn Văn H, Nguyễn Thanh V, Nguyễn Tấn Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện Tân Biên đã xử phạt hành chính là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
* Đối với người tên H có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Phi L do chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể, khi nào xác định được và có đủ căn cứ s xử lý sau.
Bản Cáo trạng số 47/CT-VKSTB, ngày 20 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Phi L (tên gọi khác: M) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”theo điểm b, c, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi L (tên gọi khác: M) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị:
Căn cứ điểm b, c, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi L (tên gọi khác: M) từ 10 (mười) năm tù đến 11 (mười một) năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Phi L.
Đề nghị căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng và truy thu tiền liên quan đến việc mua bán ma túy của bị cáo Nguyễn Phi L (tên gọi khác: M) theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Phi L (tên gọi khác: M) thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố và luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa, không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo Nguyễn Phi L không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Chứng cứ xác định bị cáo có tội: Vào lúc 22 giờ 00 phút ngày 10/01/2021, tại ấp Đ, xã V, huyện B, tỉnh N, Nguyễn Phi L cùng một lúc bán cho Nguyễn Văn H và Nguyễn Thanh V 01 bịch ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0336 gam với giá 200.000 đồng thì bị bắt quả tang. Qua điều tra mở rộng xác định, trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2021 đến ngày 10/01/2021, Nguyễn Phi L còn bán trái phép ma túy cho nhiều người khác tổng cộng 05 lần, cụ thể: Bán cho Nguyễn Văn H và Nguyễn Thanh V 03 lần với số tiền 700.000 đồng; bán cho Nguyễn Tấn Đ 02 lần với số tiền 500.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Phi L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng“Phạm tội hai lần trở lên”;“Đối với 02 người trở lên”. Xét thấy, bị cáo Nguyễn Phi L đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, nên bị cáo bị áp dụng thêm tình tiết định khung tăng nặng“Tái phạm nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm b, c, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Bản cáo trạng số 47/CT-VKSTB ngày 20/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo Nguyễn Phi L (tên gọi khác: M) với tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Nguyễn Phi L là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, nên phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra.
Khi quyết định hình phạt, cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Phi L (tên gọi khác: M) thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Hình phạt chính: Xét thấy, bị cáo Nguyễn Phi L có đã bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho nhiều người, điều này thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phục vụ cho công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Phi L (tên gọi khác: M) không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng:
- 01 (một) kéo bằng kim loại; 01 (một) hột quẹt ga là công cụ bị cáo dùng để sử dụng ma túy và 01 (một) sim số 0969677152 của bị cáo Nguyễn Phi L không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;
- 01 (một) điện thoại di động Nokia màu xanh có số Imei: 354198198101062820 bị cáo Nguyễn Phi L (tên gọi khác: M) sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy và số tiền 200.000 đồng (trong tổng số tiền thu giữ là 320.000 đồng) là tiền bị cáo bán ma túy cho Nguyễn Văn H và Nguyễn Thanh V khi bị bắt quả tang, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;
- Số tiền 1.200.000 đồng bị cáo Nguyễn Phi L bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn H, Nguyễn Thanh V, Nguyễn Tấn Đ trước khi bị bắt quả tang, bị cáo chưa giao nộp lại nên cần truy tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, số Imel: 866269040043816 là tài sản của bà Nguyễn Thị H cho bị cáo L mượn để sử dụng, không liên quan đến việc phạm tội, nên cần trả lại cho bà H.
- Số tiền 120.000 đồng còn lại trong tổng số tiền thu giữ của bị cáo Nguyễn Phi L không liên quan đến việc phạm tội nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để đảm bảo thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự;
Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
Đối với Nguyễn Văn H, Nguyễn Thanh V, Nguyễn Tấn Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện Tân Biên đã xử phạt hành chính là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Đối với người tên H có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Phi L do chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể, khi nào xác định được và có đủ căn cứ s xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Phi L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b, c, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi L (tên gọi khác: M) 11 (mười một) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 10/01/2021.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) kéo bằng kim loại; 01 (một) hột quẹt ga và 01 (một) sim số 0969677152.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động Nokia màu xanh có số Imei: 354198198101062820 và số tiền 200.000 (trăm hai nghìn) đồng của bị cáo Nguyễn Phi L.
- Truy tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo Nguyễn Phi L bán trái phép chất ma túy vào những lần trước khi bị bắt quả tang là 1.200.000 (một triệu hai trăm nghìn) đồng.
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị H 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, số Imel: 866269040043816.
- Tạm giữ số tiền 120.000 (một trăm hai mươi nghìn) đồng của bị cáo Nguyễn Phi L để đảm bảo thi hành án.
Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để đảm bảo thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự;
Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2021).
3. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Bị cáo Nguyễn Phi L (tên gọi khác: M) phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Phi L (tên gọi khác: M) được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (bà Nguyễn Thị H) được quyền kháng cáo (phần quyết định của bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình) trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP. HCM; - PKTNV- TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Tân Biên; - Cơ quan THAHS; - Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Biên; - Chi cục THADS huyện Tân Biên; - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh TN; - Phòng PV 06 Công an tỉnh TN; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thanh Thúy |