vanban.org

Bản án 72/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm h nh sự: Tuyên bố b cáo Lê Anh T phạm tội “đánh bạc”.

Xử phạt b cáo Lê Anh T 04 (bốn) tháng t . Th i gian chấp hành h nh phạt t tính từ ngày b t b cáo để thi hành án. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật nh sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng h nh sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Anh T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm h nh sự: Tuyên bố b cáo Lê Anh T phạm tội “đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật nh sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng h nh sự; Điều 321 Bộ luật nh sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2021/HS-ST
Ngày: 28-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tr ng u B nh;

2. Bà Nguy n Th im Phi.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguy n Ngọc Linh - Th ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh B nh D ng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông V Thế Du n - iểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh B nh D ng, xét xử s th m công khai vụ án h nh sự thụ lý số: 64/2021/TLST- S ngày 23 tháng 8 năm 2021 theo Quyết đ nh đ a vụ án ra xét xử số: 67/2021/QĐXXST- S ngày 14 tháng 9 năm 2021 đối với b cáo:

ọ và tên: Lê Anh T, sinh năm 1993, tại Tây Ninh; N i c tr : hu phố N1, ph ng N, thành phố T1, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; tr nh độ học vấn: 10/12; dân tộc: inh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc t ch: Việt Nam; con ông Lê Văn T2, sinh năm 1966 và bà V Th M, sinh năm 1968; b cáo c v tên Nguy n C m C, sinh năm 1989, c 02 ng i con, lớn sinh năm 2012, nh sinh năm 2015; tiền án; tiền sự: hông. B cáo tại ngoại. C mặt.

- Người c quy n l i, ngh a v liên quan đ n v án:

+ Ông Nguy n Thế ng, sinh năm 1968. N i c tr : hu phố N2, ph ng N, thành phố T1, tỉnh Tây Ninh. V ng mặt.

+ Ông Nguy n Duy K, sinh năm 1992. N i c tr : hu phố N3, ph ng N, thành phố T1, tỉnh Tây Ninh. Xin v ng mặt.

+ Ông Nguy n ng K1, sinh năm 1984. N i c tr : hu phố N4, ph ng N, thành phố T1, tỉnh Tây Ninh. Xin v ng mặt.

+Bà Thạch Th im H, sinh năm 1974. N i c tr : p H1, x M, huyện D, tỉnh B nh D ng. Xin v ng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong h s vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ c t m t t nh sau:

Khoảng 02 gi 44 ph t ngày 30/12/2020, Công an x M qua kiểm tra hành chính, phát hiện tại phòng số 04 nhà nghỉ “B” thuộc ấp H, x M, huyện D các đối t ng Lê Anh T; Nguy n Thế H1; Nguy n Duy K; Nguy n H ng K1, đang đánh bạc th ng thua bằng tiền d ới h nh thức l c bầu cua qua ứng dụng điện thoại di động. Tang vật thu gi :

- Trên chiếu bạc g m:

+ 01 điện thoại di động smartphone, hiệu OPPO.

+ 01 ghế gỗ bốn chân kích th ớc 40x40 cm.

+ Tiền Việt Nam: 4.950.000 đ ng.

- Thu gi trên ng i các đối t ng g m:

+ Lê Anh T số tiền: 1.000.000 đ ng.

+ Nguy n Duy K số tiền: 3.000.000 đ ng.

Quá tr nh điều tra, xác đ nh: Khoảng 01 gi 15 ph t ngày 30/12/2020, Lê Anh T, Nguy n Thế H1, Nguy n Duy K, Nguy n H ng K1 đến nhà nghỉ B thuộc ấp H, x M, huyện D, tỉnh B nh D ng thuê phòng số 4 để ngủ. hi vào phòng Lê Anh T, Nguy n Thế H1, Nguy n Duy K, Nguy n H ng K1 nảy sinh ý đ nh đánh bạc nên c ng đánh bạc th ng thua bằng tiền, d ới h nh thức l c bầu cua qua ứng dụng điện thoại di động để h ởng l i. hi tham gia đánh bạc, T sử dụng số tiền 1.800.000 đ ng; H1 sử dụng số tiền 800.000 đ ng; Duy K sử dụng số tiền 700.000 đ ng; H ng K1 sử dụng số tiền 1.650.000 đ ng. Nguy n Duy K là ng i làm cái, sử dụng điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen c cài ứng dụng l c bầu cua để ch i (ứng dụng bầu cua trên điện thoại c ba quân x c x c c in h nh 05 con vật nai, gà, tôm, cua, cá và h nh quả bầu), con bạc đặt c c mỗi ván số tiền từ 50.000 đ ng đến 100.000 đ ng. nh thức ch i l c bầu cua nh sau: Trò ch i đ c chia thành nhiều l t và không giới hạn số l t cũng nh số l ng ng i ch i. B t đầu mỗi l t ch i, ba quân x c x c trong điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen đ c Nguy n Duy K làm cái nhấn n t l c c ng l c và kết quả đ c gi kín. Ng i ch i chọn một hoặc nhiều h nh t ng ứng mà m nh thích và đặt tiền. Khi con bạc đặt tiền xong, nhà cái đ a điện thoại di động ra công bố kết quả. Các mặt ngửa lên của ba quân x c x c là mặt th ng. T y thuộc vào kết quả này, nhà cái sẽ tiến hành trả tiền theo số tiền c c cho mỗi ng i ch i nếu một trong ba viên x c x c xuất hiện h nh con vật mà ng i ch i đ đặt c c tiền, họ sẽ lấy lại tiền c c, đ ng th i nhà cái phải trả thêm số tiền bằng số lần linh vật đ xuất hiện nhân với số tiền c c; nếu linh vật ng i ch i chọn không xuất hiện, số tiền đặt c c thuộc về nhà cái. Các con bạc ch i đ c khoảng 10 ván th b Công an phát hiện b t quả tang, c ng tang vật. L c này, T th ng 500.000 đ ng; H1 th ng 50.000 đ ng; Duy K th ng 800.000 đ ng; H ng K1 thua 1.350.000 đ ng.

Đối với Nguy n Thế H1, Nguy n Duy K, Nguy n ng K1 đánh bạc d ới h nh thức l c bầu cua th ng thua bằng tiền với tổng số tiền d ng đánh bạc là 4.950.000 đ ng ch a đủ đ nh l ng khởi tố vụ án h nh sự về tội đánh bạc. Do đ , Công an huyện Dầu Tiếng đ ra Quyết đ nh xử phạt vi phạm hành chính mỗi ng i số tiền 1.500.000 đ ng.

Cáo trạng số 67/CT-VKSDT-HS ngày 23 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng đ truy tố b cáo Lê Anh T về tội “đánh bạc” theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật nh sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng vẫn gi nguyên quan điểm truy tố b cáo về tội danh, điều luật áp dụng nh nội dung cáo trạng và đề ngh ội đ ng xét xử:

- Về h nh phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật H nh sự xử phạt b cáo Lê Anh T từ 06 tháng đến 08 tháng t ;

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật nh sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng h nh sự:

Đối với 01 điện thoại di động smartphone, hiệu OPPO thu gi của Nguy n Duy K sử dụng làm công cụ phạm tội nên đề ngh t ch thu sung vào ngân sách Nhà n ớc.

Đối với 01 ghế gỗ bốn chân kích th ớc 40x40 cm, Quá tr nh điều tra xác đ nh là tài sản h p pháp của Thạch Th Kim H, sinh năm 1974, c tr tại ấp H, x M, huyện D, tỉnh B nh D ng (là chủ nhà nhà nghỉ B), việc các b cáo sử dụng làm công cụ phạm tội th Thạch Th Kim H không biết nên đề ngh giao trả cho Thạch Th Kim H.

Đối với số tiền 8.950.000 đ ng thu gi . Quá tr nh điều tra xác đ nh c 4.950.000 đ ng là tiền các b cáo sử dụng vào việc phạm tội; 4.000.000 đ ng là tiền cá nhân của b cáo Lê Anh T (1.000.000 đ ng) và Nguy n Duy K (3.000.000 đ ng) không sử dụng vào mục đích phạm tội. Đề ngh t ch thu 4.950.000 đ ng vào ngân sách Nhà n ớc và giao trả 1.000.000 đ ng cho Lê Anh T; 3.000.000 đ ng cho Nguy n Duy K.

Tại phiên tòa: B cáo Lê Anh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nh cáo trạng đ nêu, ăn năn, hối cải v hành vi đ gây ra. B cáo không tranh luận g về tội danh, điều khoản truy tố mà đại diện Viện kiểm sát đ a ra. L i n i sau c ng: B cáo đ biết hành vi của b cáo là sai, b cáo xin giảm nh h nh phạt để b cáo sớm về lo cho gia đ nh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h s vụ án đ đ c tranh tụng tại phiên tòa, ội đ ng xét xử nhận đ nh nh sau:

Các hành vi, quyết đ nh tố tụng của C quan điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, iểm sát viên, thành viên ội đ ng xét xử, Th ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa trong quá tr nh điều tra, truy tố, xét xử đ thực hiện đ ng về th m quyền, tr nh tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng h nh sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, b cáo, ng i c quyền l i, ngh a vụ liên quan đến vụ án không c ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của c quan tiến hành tố tụng, ng i tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết đ nh tố tụng của c quan tiến hành tố tụng, ng i tiến hành tố tụng đ thực hiện đều h p pháp.

L i khai của b cáo Lê Anh T tại phiên tòa ph h p với l i khai của b cáo tại c quan điều tra, các l i khai thống nhất với nhau về quá tr nh thực hiện hành vi phạm tội, ph h p với l i khai của ng i c quyền l i, ngh a vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ khác c trong h s vụ án. Từ nh ng chứng cứ nêu trên c căn cứ kết luận: Vào l c 02 gi 44 ph t ngày 30/12/2020, tại phòng số 04 nhà nghỉ “B” thuộc ấp H, x M, huyện D Lê Anh T; Nguy n Thế H1; Nguy n Duy K; Nguy n H ng K1, thực hiện hành vi đánh bạc th ng thua bằng tiền d ới h nh thức l c bầu cua qua ứng dụng điện thoại di động với tổng số tiền d ng đánh bạc là 4.950.000 đ ng. Lê Anh T đ từng b Công an x M, huyện D xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc số tiền 1.500.000 đ ng vào ngày 01/7/2020 (theo Quyết đ nh số 123/QĐ-XP C ngày 01/7/2020).

B cáo T là ng i c đầy đủ năng lực ch u trách nhiệm h nh sự, nhận thức đ c hành vi đánh bạc th ng thua bằng tiền trái phép d ới mọi h nh thức b Nhà n ớc cấm nh ng vẫn cố ý thực hiện v động c t l i cho bản thân b cáo. B cáo đ thực hiện hành vi đánh bạc d ới h nh thức l c l c bầu cua th ng thua bằng tiền với Nguy n Thế H1; Nguy n Duy K; Nguy n H ng K1. Th i điểm b b t, tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc trái phép là 4.950.000 đ ng. B cáo T là ng i đ c tiền sự về hành vi đánh bạc, ch a đ c xoá án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên d số tiền đánh bạc ch a đủ đ nh l ng 5.000.000 đ ng vẫn đủ căn cứ để truy tố b cáo về hành vi đánh bạc theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật nh sự. Nh vậy, Cáo trạng số 67/CT-VKSDT- S ngày 23/8/2021 cũng nh phần luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng đ truy tố b cáo Lê Anh T về tội “đánh bạc” quy đ nh tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật nh sự là c căn cứ, đ ng pháp luật.

Tại phiên toà, b cáo c thái độ thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, thuộc tr ng h p ít nghiêm trọng là các t nh tiết giảm nh trách nhiệm h nh sự theo quy đ nh tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật H nh sự. ội đ ng xét xử xem xét giảm nh một phần h nh phạt đối với b cáo để b cáo thấy đ c sự khoan h ng của pháp luật.

B cáo không c t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự. Đối với tiền sự b cáo b Công an x M, huyện D xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc số tiền 1.500.000 đ ng vào ngày 01/7/2020 (tại Quyết đ nh số 123/QĐ-XP C ngày 01/7/2020). Do t nh tiết này đ đ c sử dụng làm căn cứ để truy tố b cáo nên không tiếp tục đ c sử dụng để xác đ nh nhân thân, tiền sự đối với b cáo.

Sau khi xem xét đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, các t nh tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm h nh sự, nhân thân của b cáo, thấy rằng: B cáo phạm tội lần đầu, thuộc tr ng h p ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc không lớn nh ng b cáo thể thiện thái độ coi th ng pháp luật khi trong năm 2020 b cáo vừa b xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nh ng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử lý bằng h nh phạt t mới đủ sức răn đe đối với b cáo. Tuy nhiên, b cáo c nhiều t nh tiết giảm nh trách nhiệm h nh sự quy đ nh tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật nh sự nên ội đ ng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật nh sự quyết đ nh h nh phạt d ới mức thấp nhất của khung h nh phạt truy tố đối với b cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động smartphone, hiệu OPPO của Nguy n Duy K, đ c sử dụng làm công cụ phạm tội nên cần t ch thu sung vào ngân sách Nhà n ớc.

Đối với 01 ghế gỗ bốn chân kích th ớc 40x40 cm là tài sản h p pháp của bà Thạch Th Kim H, việc b cáo sử dụng để phục vụ cho việc đánh bạc th bà Thạch Th Kim H không biết nên cần trả lại cho bà H.

Đối với số tiền 8.950.000 đ ng thu gi theo biên bản phạm tội quả tang ngày 30/12/2020. Quá tr nh điều tra xác đ nh c 4.950.000 đ ng là tiền sử dụng đánh bạc nên t ch thu sung vào ngân sách nhà n ớc; 4.000.000 đ ng (g m: Lê Anh T 1.000.000 đ ng và Nguy n Duy K 3.000.000 đ ng) là tài sản cá nhân không sử dụng vào mục đích phạm tội nên trả lại cho b cáo T và Nguy n Duy K.

Đối với Nguy n Thế H1, Nguy n Duy K, Nguy n ng K1 đánh bạc d ới h nh thức l c bầu cua th ng thua bằng tiền với tổng số tiền d ng đánh bạc là 4.950.000 đ ng ch a đủ đ nh l ng khởi tố vụ án h nh sự về tội đánh bạc. Do đ , Công an huyện Dầu Tiếng đ ra Quyết đ nh xử phạt vi phạm hành chính mỗi ng i số tiền 1.500.000 đ ng là ph h p.

Xét ý kiến luận tội của iểm sát viên tại phiên tòa đối với b cáo về phần tội danh, điều khoản áp dụng là c căn cứ ph h p với các t nh tiết của vụ án nên ội đ ng xét xử chấp nhận. Riêng mức h nh phạt đề xuất đối với b cáo là nghiêm kh c nên không đ c chấp nhận.

Về án phí: B cáo phạm tội và b kết án nên phải ch u án phí theo quy đ nh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm h nh sự: Tuyên bố b cáo Lê Anh T phạm tội “đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật nh sự:

Xử phạt b cáo Lê Anh T 04 (bốn) tháng t . Th i gian chấp hành h nh phạt t tính từ ngày b t b cáo để thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật nh sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng h nh sự:

T ch thu sung ngân sách nhà n ớc 4.950.000 đ ng (bốn triệu chín trăm năm m i ngàn đ ng).

T ch thu sung ngân sách nhà n ớc 01 (một) điện thoại di động smartphone, hiệu OPPO (t nh trạng vật chứng tại th i điểm giao nhận: đ cũ không kiểm tra đ c số imei).

Trả cho bà Thạch Th im H 01 (một) ghế gỗ 04 chân kích th ớc 40x40cm.

Trả lại cho b cáo Lê Anh T số tiền 1.000.000 đ ng (một triệu đ ng).

Trả lại cho Nguy n Duy K số tiền 3.000.000 đ ng (ba triệu đ ng).

(Th hi n tại iên n giao nhận vật ch ng ngày 0 202 và iên lai thu ti n s AA/2016/0001399 ngày 27/8/2021 của Chi c c Thi hành án dân s huy n ầu Ti ng, t nh Bình ương)

3. Về án phí: Căn cứ Ngh quyết số: 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Th ng vụ Quốc hội kh a 14 quy đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

B cáo Lê Anh T phải ch u số tiền 200.000 đ ng (hai trăm ngàn đ ng) án phí h nh sự s th m.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng h nh sự:

B cáo đ c quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/9/2021).

Ng i c quyền l i, ngh a vụ liên quan đến vụ án v ng mặt tại phiên toà c quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đ c bản án hoặc bản án đ c niêm yết theo quy đ nh./.

Cỡ chữ