vanban.org

Bản án 72/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Văn T, sinh ngày 05/3/2005 cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Con chung Nguyễn Văn H, sinh ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tuyến Tuấn ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN DƢƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2021/HNGĐ-ST
Ngày 27-8-2021
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƢƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Thị Nhàn

Bà Nguyễn Thị Tươi

- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Trí Thắng - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 180/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2021 về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện An Dương thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện An Dương thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình tố tụng nguyên đơn là chị Trần Thị T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở hai bên đều tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng vào ngày 30/12/1992. Sau khi kết hôn vợ chồng chị sống tại thôn V, xã Đ, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Thời gian đầu vợ chồng hòa thuận hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng. Nguyên nhân là do anh T chửi bới, đánh đập chị, cuộc sống vợ chồng thường xuyên va chạm, căng thẳng, không có hạnh phúc. Bản thân chị nhiều lần về bên ngoại ở do anh T đánh đập vì con chung nên chị quay về chung sống với anh T. Tuy nhiên chỉ được một thời gian ngắn anh T lại chửi bới, đánh đập chị. Chị đã tìm cách khắc phục mâu thuẫn, nhưng hai bên không cải thiện được mà lại nghiêm trọng hơn. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình giúp đỡ hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị và anh T đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn nghiêm trọng, hai bên không thể khắc phục tiếp tục chung sống với nhau, hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn T

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn T có con chung 02 con chung Nguyễn Văn H, sinh ngày 10/12/1995, Nguyễn Văn T, sinh ngày 05/3/ 2005. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cho chị nuôi con chung Nguyễn Văn T. Con chung Nguyễn Văn H đã trưởng thành, chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị và anh T tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa, tại biên bản lấy lời khai anh T trình bày:

Anh kết hôn với chị Trần Thị T trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng vào năm 1992. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại xã Đại Bản, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống hai bên không có mâu thuẫn gì, anh cũng nói chuyện với chị T nhưng chị T không nghe. Chị T xin ly hôn anh không đồng ý vì còn thương yêu chị T, đề nghị Tòa án hòa giải cho hai bên đoàn tụ. Nếu chị T cương quyết xin ly hôn với anh đề nghị Tòa án giải quyết với chị T, anh không có ý kiến gì.

Về con chung: Anh và chị Trần Thị T có 02 con chung Nguyễn Văn H, sinh ngày 10/12/1995, Nguyễn Văn T, sinh ngày 05/3/2005. Anh không đồng ý ly hôn nên không có ý kiến gì về con chung.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 39 Bộ luật Dân sự; căn cứ vào Điều 6, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016: Xử cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Văn T, sinh ngày 05/3/2005 cho chị Trần Thị T nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi nếu không có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, con chung Nguyễn Văn H, sinh ngày 10/12/1995 đã trưởng thành không giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Chị Trần Thị T khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Văn T có địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị T, anh T vắng mặt nhưng có quan điểm đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn T.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ vào chứng cứ do đương sự cung cấp và các chứng cứ do Toà án thu thập đã có đủ cơ sở xác định lời khai của chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn T về thời gian kết hôn, quá trình chung sống giữa hai bên là đúng sự thật. Mâu thuẫn vợ chồng được thể hiện ở việc trong quá trình chung sống hai bên va chạm bất hòa, sống ly thân, không còn quan tâm và trách nhiệm đến nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Mâu thuẫn đã được gia đình can thiệp giúp đỡ nhưng không khắc phục được. Quá trình giải quyết vụ án, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc chị không thể tiếp tục chung sống với anh T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh T ly hôn. Anh T có quan điểm đề nghị Tòa án hòa giải cho hai bên đoàn tụ nếu chị T cương quyết xin ly hôn anh không có ý kiến gì.

Xét thấy tình trạng mâu thuẫn giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn T đã căng thẳng và trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, do đó yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh T là có cơ sở, cần được chấp nhận để giải phóng cho hai bên khỏi sự ràng buộc bởi quan hệ hôn nhân. Căn cứ vào các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn T có 02 con chung Nguyễn Văn H, sinh ngày 1012/1995, Nguyễn Văn T, sinh ngày 05/3/2005. Việc nuôi dưỡng con chung là quyền đồng thời là nghĩa vụ của cha mẹ. Quá trình giải quyết vụ án, chị T có quan điểm đề nghị Tòa án giao cho chị nuôi con chung Nguyễn Văn T, về cấp dưỡng nuôi con chị và anh T tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết còn anh Nguyễn Văn T không có quan điểm về nuôi con chung cũng như cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn. Căn cứ vào điều kiện nuôi con chung và quan điểm của đương sự, nguyện vọng con chung Nguyễn Văn T giao con chung Nguyễn Văn T cho chị T nuôi dưỡng sau ly hôn là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn chị T không yêu cầu, Hội đồng xét xử tạm thời không giải quyết, sau này các bên có tranh chấp về nuôi dưỡng con chung và cấp dưỡng con chung sau ly hôn, Tòa án giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Con chung Nguyễn Văn H đã trưởng thành Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử tạm thời không giải quyết, sau này hai bên có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

Về án phí: Chị Trần Thị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo Bản án của các đương sự: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, các điều 70, 143, 147, khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; căn cứ vào Điều 6, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Văn T, sinh ngày 05/3/2005 cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Con chung Nguyễn Văn H, sinh ngày 10/12/1995 đã trưởng thành Hội đồng xét xử không giải quyết.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Hội đồng xét xử tạm thời không giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử tạm thời không giải quyết

5. Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí ly hôn chị T đã nộp (biên lai thu tiền số 0013227 ngày 29 tháng 6 năm 2021) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Chị Trần Thị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Trong trường hợp Bản án được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP. Hải Phòng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND TP Hải Phòng;

- VKSND huyện An Dương;

- Chi cục Thi hành án dân sự An Dương;

- UBND xã Đại Bản (ĐKKH số 51 ngày 30/12/1992);

- Đương sự;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Thu Hƣơng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hƣơng

Bùi Thị Nhàn Vũ Văn Thi

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hƣơng

Đồng Thị Thƣờng Vũ Văn Thi Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP. Hải Phòng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND huyện An Dương;

- Chi cục Thi hành án dân sự An Dương;

- UBND xã Hồng Phong (Nơi ĐKKH);

- Đương sự;

- Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Thu Hƣơng

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Tuân Nguyễn Thị Lợi

Trƣơng Minh Huế

Cỡ chữ