vanban.org

Bản án 72/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn T và chị Thị U.

nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: [1] Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Văn T và chị Thị U"
  • Tòa quyết gì? hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn T và chị Thị U.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 72/2021/HNGĐ-ST
Ngày 26-5-2021
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Võ Quốc Văn

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

1. Bà Hồ Lệ Hoa

2. Ông Hồ Quốc Văn

- Thư ký phiên tòa:"Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký Tòa án của Toà án

nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia"

phiên"tòa: Ông Võ Hồng Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét

xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 59/2021/TLST – HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2021 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:

-"Nguyên"đơn: Anh Nguyễn Văn T (vắng mặt).

-"Bị"đơn: Chị Thị U (vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp H, xã B, Thới Bình, Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

"

Theo"đơn"khởi"kiện"ngày"05"tháng"3"năm"2021"và"trong"quá"trình"giải"quyết"

vụ"án"nguyên"đơn"anh"Nguyễn"Văn"T"trình"bày:"

Anh T và chị U tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Uỷ

ban nhân dân xã B ngày 20/02/2008, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, đến tháng 4/2012 không biết lý do gì, chị U bỏ nhà đi không tiếp tục chung sống với anh T cho đến nay. Vì vậy, anh T yêu cầu ly hôn với chị U.

Con chung: Có hai người con chung là Nguyễn Thị Mỹ Th, sinh ngày

19/10/2004 và Nguyễn Thị N, sinh ngày 13/02/2006, hiện anh T đang nuôi dưỡng.

1

Trường hợp, ly hôn anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung, yêu cầu chị U cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tòa"án"đã"tống"đạt"hợp"lệ"thông"báo"về"việc"thụ"lý"vụ"án,"thông"báo"về"phiên"

họp"cho"chị"Thị"U"nhưng"chị"không"có"ý"kiến."

Tại phiên tòa hôm nay: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình

phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Các yêu cầu của anh T về hôn nhân; về con chung và cấp dưỡng nuôi con là có cơ sở chấp nhận; về tài sản, nợ chung: Không có; về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc anh T yêu cầu ly hôn với chị U thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.

Anh T, chị U, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa dân sự sơ

thẩm lần thứ hai, anh T vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, còn chị U vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.

Về nội dung vụ án:

[1] Về hôn nhân: Anh T và chị U tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký

kết hôn theo quy định nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Quá trình chung sống không còn hạnh phúc nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 4/2012 đến nay. Việc anh chị ly thân cho thấy hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Xét về tình trạng hôn nhân và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình về nội dung vụ án là có cơ sở nên chấp nhận yêu cầu của anh T được ly hôn với chị U.

[2] Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con của anh T thấy rằng cháu Th và N

đang chung sống ổn định và có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với anh T, chị U không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử chấp

2

nhận yêu cầu nuôi con của anh T, giao các cháu Th, N cho anh T nuôi dưỡng. Anh T yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên buộc chị U có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu với số tiền là 745.000 đồng/tháng, cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm (ngày 26/5/2021) đến khi các con đủ 18 tuổi. Chị U có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày anh T có đơn yêu cầu thi hành án mà chị U chậm thực hiện nghĩa

vụ cấp dưỡng thì phải trả lãi theo quy đinh tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

[3] Tài sản chung, nợ chung: Không có, các đương sự không yêu cầu nên

không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch: Anh T phải chịu số tiền là

300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do anh T đã nộp tạm ứng án phí nên được đối trừ không phải nộp tiếp. Chị U phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi số tiền 300.000 đồng.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì""các"lẽ"nêu"trên," "

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến

hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn T và chị Thị U.

Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 107, 116, 117 của Luật hôn

nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

[1] Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T và chị Thị U được ly hôn.

[2] Về con chung: Chấp nhận yêu cầu nuôi con của anh Nguyễn Văn T, giao

các cháu Nguyễn Thị Mỹ Th, sinh ngày 19/10/2004 và Nguyễn Thị N, sinh ngày 13/02/2006 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, buộc chị Thị U có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi người số tiền 745.000 đồng (bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng)/tháng, cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm (ngày 26/5/2021) đến khi các con đủ 18 tuổi. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3

Kể từ ngày anh T có đơn yêu cầu thi hành án mà chị U chậm thực hiện nghĩa

vụ cấp dưỡng thì phải trả lãi theo quy đinh tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch: Anh T phải chịu số tiền

300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Ngày 05-3-2021 anh T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011540 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được đối trừ chuyển thu án phí.""

Chị U phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi

con.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Anh T, chị U được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được

nhận hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ