vanban.org

Bản án 72/2020/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 09/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cao Hoàng A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.

Xử phạt bị cáo Cao Hoàng A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án. Tiếp tục duy trì lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú số 16/2020/HSST-LCĐKNCT ngày 14/02/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Hoàng A - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Hoàng A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 72/2020/HSST
Ngày 09-3-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm, Cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ phƣờng Bình Thắng, thị xã Dĩ An;

2. Ông Tô Văn Nhung, Nguyên giáo viên trƣờng tiểu học An Bình, thị xã Dĩ An.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 76/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Cao Hoàng A, sinh năm 1992, tại tỉnh T; thƣờng trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh T; chỗ ở: Ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh B; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Cao Văn T, sinh năm 1973 và bà Lê Thị H, sinh năm 1973; bị cáo 01 em ruột, sinh năm 1994; có vợ tên Lê Thị Thùy D, sinh năm 1997; bị cáo có 01 con ruột, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Bị hại:

1. Em Lê Hữu Hoàng L, sinh ngày 13/11/2006 (đã chết).

2. Em Lê Hoàng Huỳnh N, sinh ngày 02/8/2009.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Ông Lê Hữu L, sinh năm 1974 và bà Hoàng Thị D, sinh năm 1979; cùng thƣờng trú: Số 59/3 khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn dân sự: Ông Phan Thành S, sinh năm 1973; thƣờng trú: Số 239A, ấp 1, xã T, thành phố B, tỉnh Đ, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Phan Thanh H, sinh năm 2001; vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 2001; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Cao Hoàng A là ngƣời có giấy phép lái xe hạng C. Ngày 20/10/2018, ông Phan Thành S giao cho Cao Hoàng A điều khiển xe ô tô tải thùng hiệu DOTHANH, biển số 60C-319.17, trọng tải 6550 kg cùng với hai phụ xe tên Phan Thanh H và Nguyễn Văn Q đi từ bãi xe thuộc xã T, thành phố B, tỉnh Đ đến khu công nghiệp N thuộc thị xã T, tỉnh B để lấy hàng giao cho khách. Đến khoảng 07 giờ 30 cùng ngày, A điều khiển xe ô tô tải thùng hiệu DOTHANH, biển số 60C-319.17 lƣu thông trên đƣờng Nguyễn Thị T theo hƣớng đƣờng Bùi Thị Xuân về hƣớng vòng xoay A, thị xã T, tỉnh B. Khi đến đoạn ngã ba mũi tàu thuộc khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B thì A nhìn thấy phía trƣớc có một xe tải và một xe nâng đỗ sát lề phải để xuống hàng nên A đã bật đèn tín hiệu xi nhan bên trái và điều khiển xe ô tô biển số 60C-319.17 lấn sang phần đƣờng bên trái để vƣợt qua xe nâng, xe ô tô tải đang đỗ. Trong lúc vƣợt đã để đầu trƣớc bên phải xe ô tô đụng vào xe đạp điện do em Lê Hữu Hoàng L điều khiển chở em gái phía sau tên Lê Hoàng Quỳnh N lƣu thông hƣớng ngƣợc lại theo hƣớng từ An Phú về về đƣờng Bùi Thị Xuân (đi đúng chiều đi và phần đƣờng giành cho xe hai bánh) dẫn đến tai nạn giao thông, hai xe va chạm làm em L, em N cùng xe đạp điện ngã xuống đƣờng. Lúc này, A và hai phụ xe đã chở em N và em L đi cấp cứu tại phòng khám đa khoa Bình An thuộc phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng và sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dƣơng.

- Hậu quả: Vụ tai nạn giao thông làm em Lê Hữu Hoàng L chết tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dƣơng, em Lê Hoàng Quỳnh N bị chấn thƣơng nặng, xe ô tô biển số 60C-319.17 và xe đạp điện bị hƣ hỏng.

* Theo Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 42/GĐPY ngày 20/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, kết luận nguyên nhân gây tử vong của cháu Lê Hữu Hoàng L là do đa chấn thƣơng, chấn thƣơng sọ não.

* Kết luận giám định số 1105 ngày 10/12/2019 của trung tâm pháp y sở y tế Đông Nai kết luận về thƣơng tích của cháu Lê Hoàng Quỳnh N nhƣ sau:

- Dấu hiệu chính qua giám định:

Tổn thƣơng não thái dƣơng trái kích thƣớc 2,1x2,9cm (Áp dụng chƣơng 2, điều III, mục 2). Tỷ lệ: 40%

Tổn thƣơng gãy xoang hàm trái không di lệch (Áp dụng chƣơng 13, điều II, mục 6.1). Tỷ lệ: 11%

Tổn thƣơng gãy xoang hàm phải không di lệch (Áp dụng chƣơng 13 điều II, mục 6.1). Tỷ lệ: 11%

Gãy 1/3 xƣơng cánh tay phải hiện can tốt, trục thẳng (Áp dụng chƣơng 8, điều I, mục 7.1). Tỷ lệ: 11%

Gãy 1/3 giữa 02 xƣơng cẳng chân phải hiện can tốt, trục thẳng (Áp dụng chƣơng 8, điều VII, mục 3.1). Tỷ lệ: 20%

Chấn thƣợng đụng dập thận độ II đƣợc điều trị bảo tồn (Áp dụng chƣơng 6, điều I, mục 1.1). Tỷ lệ: 06%

Sẹo 1/3 giữa cẳng chân phải kích thƣớc 08x0,6 (Áp dụng chƣơng 9, điều I, mục 3). Tỷ lệ: 08%

Nhiều sẹo kích thƣớc nhỏ vùng đùi phải và nhiều sẹo kích thƣớc nhỏ vùng gối phải (Áp dụng chƣơng 9, điều I, mục 2). Tỷ lệ: 07%

Sẹo 1/3 trên cẳng chân phải kích thƣớc 10x0,3cm (Áp dụng chƣơng 9, điều I, mục 1). Tỷ lệ: 03%

Sẹo cẳng tay phải kích thƣớc 04x0,3cm (Áp dụng chƣơng 9, điều I, mục 1). Tỷ lệ: 02%

Sẹo mặt trƣớc trong đùi phải kích thƣớc 02x0,2cm (Áp dụng chƣơng 9, điều I, mục 1). Tỷ lệ: 01%

- Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể (áp dụng theo phƣơng pháp cộng lùi ) do thƣơng tích gây nên tại thời điểm giám định là: 74%.

* Kết luận giám định số 184 ngày 10/12/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận:

- Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 60C- 319.17 với xe đạp điện là: Dấu vết trƣợt xƣớc sơn màu xanh có chiều từ trƣớc về sau ở góc phải đầu xe ô tô phù hợp va chạm với mặt trƣớc tay phanh bên phải xe đạp điện (để lại vết trƣợt bám dính màng màu xanh, dạng sơn trên mặt trƣớc tay phanh).

- Vị trí va trạm đầu tiên giữa xe ô tô tải và xe đạp điện chiếu xuống mặt đƣờng là khu vực phía trƣớc bên trái vị trí xe đạp điện ngã, thuộc phần đƣờng bên trái (theo chiều di chuyển của ô tô).

* Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trƣờng vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 20 tháng 10 năm 2018 hiện trƣờng thể hiện nhƣ sau:

- Hiện trạng của đoạn đƣờng nơi xảy ra tai nạn là đoạn ngã ba đƣờng cong, không hạn chế tầm nhìn của ngƣời lái xe. Tổ chức giao thông ở đây có biển báo tốc độ. Mặt đƣờng nơi xảy ra tai nạn đƣợc trải nhựa bằng phẳng, có vạch sơn trắng đứt quãng phân chia hai phần đƣờng xe chạy riêng biệt, phần đƣờng bên phải theo hƣớng Bùi Thị Xuân về hƣớng Công ty Mộc Xuyên là 5,00m, phần đƣờng bên trái rộng 4,80m.

- Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phƣơng tiện, dấu vết: (1) xe tải thùng biển số 60C-319.17; (1a), (1b), (1c) vết thắng xe ô tô tải thùng 60C-319.17; (2) xe đạp điện; (2a) vết nhựa bể; (3a), (3b) vết máu; (4) điểm đƣờng cong vào ngã ba; (5) cột điện bê tông số 40.

- Xác định điểm mốc và một số các mép đƣờng nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Cột điện bê tông số 40 ký hiệu (5) làm điểm mốc và lấy mép lề phải theo hƣớng đƣờng Bùi Thị Xuân về hƣớng Công ty Mộc Xuyên làm chuẩn để đo.

- Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phƣơng tiện, tang vật, dấu vết:

- (1) xe ô tô tải thùng biển số 60C-319.17, sau tai nạn đầu xe hƣớng về Công ty Mộc Xuyên, đuôi xe hƣớng về hƣớng đƣờng Bùi Thị Xuân, trục bánh trƣớc bên phải cách mép chuẩn là 5,35m, trục bánh sau cách mép đo chuẩn là 5,00m, xe ô tô (1) còn để lại trên mặt đƣờng ba vết thắng đƣợc ký hiệu (1a), (1b), (1c).

Vết thắng (1a) để lại trên mặt đƣờng dài 6,90m, đầu vết thắng cách mép chuẩn là 7,10m

Vết thắng (1b) để lại trên mặt đƣờng dài 11,00m, đầu vết thắng cách mép chuẩn là 6,00m và cách trục bánh trƣớc xe đạp điện (2) là 6,10m.

Vết thắng (1c) để lại trên mặt đƣờng dài 10,80m, đầu vết thắng cách mép chuẩn là 7,80m.

- (2) xe đạp điện sau khi tai nạn ngã về phía bên trái, đầu xe hƣớng vào mép lề chuẩn, đuôi xe hƣớng vào lề trái, trục bánh trƣớc cách mép chuẩn là 4,00m, trục bánh sau cách mép chuẩn là 5,20m; (2a) vết nhựa bể trên đƣờng.

- (3a, 3b) vết máu của nạn nhân; vết máu (3a) cách mép chuẩn là 0,90m và cách trục bánh trƣớc xe (2) là 4,70m; vết máu (3b) cách mép chuẩn là 0,20m và cách vết máu (3b) là 7,30m.

- (4) Điểm đƣờng cong vào ngã ba cách trục bánh sau xe (2) là 48,00m.

- (5) Cột điện bê tông số 40 cách trục bánh trƣớc bên trái xe (1) là 9,40m.

* Căn cứ biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 22/11/2018.

- Xe ô tô tải thùng biển số 60C-319.17: Mặt trƣớc góc bên phải đầu xe bị biến dạng hƣớng từ trƣớc về sau kích thƣớc (37x33) cm, mép trên cách mặt đất là 137cm, mép dƣới cách mặt đất 110cm; ốp khớp nối góc bên phải bị bể trƣớc đầu xe kích thƣớc (18x5) cm; góc bên phải trƣớc đầu xe có vết trầy xƣớc sơn xe trƣợt ngang kích thƣớc (9x0,5) cm, cách mặt đất 110cm; kính đèn trƣớc bên phải đầu xe bị bể kích thƣớc (35x28) cm; ốp bảo vệ phía trƣớc đèn trƣớc bên phải bị bể rơi mất; đèn tín hiệu xi nhan bên phải bị bể kích thƣớc (20x13) cm; cản bảo vệ phía trƣớc đầu xe bị rơi mất; đèn đờ mi phía dƣới đèn trƣớc bên phải bị rơi mất; góc phía trƣớc bệ bƣớc lên xuống bên phải có vết xƣớc đen kích thƣớc (2,5x2,5) cm; phần nhựa bên dƣới bệ bƣớc lên xuống bên phải bị bể kích thƣớc (10x12) cm; mặt ngoài mâm bánh trƣớc bên phải có vết xƣớc sạch bụi kích thƣớc (38x3) cm; mặt ngoài vỏ bánh trƣớc bên phải dƣới chữ ER (của chữ MILER) có vết sạch bụi kích thƣớc (6x2) cm.

- Xe đạp điện: Giỏ xe đạp gắn phía trƣớc bằng nhựa bị bể, gãy mặt sau giá đỡ kích thƣớc (35x21,5) cm, cách mặt đất là 88 cm; cổ xe đạp bị cong, hƣớng từ trƣớc về sau và quay về bên phải dọc thân xe, cách mặt đất là 82 cm; đèn chiếu sáng phía trƣớc xe đạp bị gãy khớp nối, cách mặt đất là 10cm; đầu tay cầm bên trái phía trên phần mũ bị mài mòn kích thƣớc (2x0,2) cm, cùm con tắc hệ thống đèn tín hiệu bên trái xe bị bể mặt sau kích thƣớc (5x3) cm; đầu tay cầm bên phải bị mài mòn phần nhựa kích thƣớc (3x1,5) cm, cùm tay thắng bên phải bị vênh hƣớng từ dƣới lên và bị bể phần kim loại bảo vệ cần thắng kích thƣớc (2,5x1,5) cm, mặt trƣớc tay thắng bên phải có dính lớp sơn của xe ô tô, cách mặt đất 110 cm; mũi yên trƣớc xe bị gãy; tay vịnh phía sau yên trƣớc bị cong biến dạng hƣớng từ trƣớc về sau, yên sau xe đạp bị biến dạng hƣớng từ phải sang trái; dèn chắn bùn sau xe bị biến dạng hƣớng lệnh về phía bên trái; đèn tín hiệu phía sau bị bể kích thƣớc (10x15) cm; bánh xe sau xe đạp bị cong vênh biến dạng; đầu bàn đạp trƣớc bên trái bị mài mòn phần nhựa kích thƣớc (3,5x3) cm, thanh bàn đạp bên phải bị cong hƣớng từ ngoài vào trong; cạc tê bảo vệ dây sên xe đạp bên phải bị gãy khớp nối phía trên và mặt ngoài vết trƣợt màu đen kích thƣớc (17x2,5) cm; phần đầu gác chân sau bên trái bị bể, bị mài mòn phần nhựa, gác chân sau bên phải bị bể rơi mất phần nhựa và bị cong hƣớng từ trên xuống; hộp đựng bình ắc quy xe đạp bị bể rơi mất.

Cáo trạng số 105/CT-VKS-DA ngày 12 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Cao Hoàng A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Cao Hoàng A từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe ô tô tải thùng biển số 60C-319.17 của ông Phan Thành S bị hƣ hỏng, ông Sơn đã nhận lại xe, không yêu cầu gì khác. Đối với xe đạp điện bị hƣ hỏng nặng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng ra Quyết định trả lại xe cho ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại là ông Lê Hữu L và bà Hoàng Thị D.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Phan Thành S chủ xe ô tô tải thùng biển số 60C-319.17 cùng với bị cáo thỏa thuận bồi thƣờng tiền chi phí mai táng, điều trị thƣơng tích, chi phí sửa xe đạp điện và tiền tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại với tổng số tiền 175.000.000 đồng. Ông Lê Hữu L và bà Hoàng Thị D là ngƣời đại diện hợp pháp cho bị hại đồng ý nhận số tiền trên và không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo, bị đơn dân sự không có ý kiến tranh luận, đối đáp với đại diện Viện kiểm sát và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại cơ quan điều tra, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị đơn dân sự không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Quá trình điều tra, ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại, ngƣời làm chứng không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Cao Hoàng A là ngƣời có giấy phép lái xe hạng C. Ngày 20/10/2018, tại ngã ba mũi tàu thuộc khu phố Tân Hiệp, phƣờng Tân Bình, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, Cao Hoàng A bật đèn tín hiệu xi nhan bên trái và điều khiển xe ô tô biển số 60C-319.17 lấn sang phần đƣờng bên trái để vƣợt qua xe nâng, xe ô tô tải đang đỗ đã đụng vào xe đạp điện do em Lê Hữu Hoàng L điều khiển chở em gái Lê Hoàng Quỳnh N lƣu thông hƣớng ngƣợc lại theo hƣớng từ An Phú về đƣờng Bùi Thị Xuân dẫn đến tai nạn giao thông làm em L chết tại bệnh viện và em N bị thƣơng tích tỷ lệ thƣơng tật 74%.

Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo Cao Hoàng A đã vi phạm khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đƣờng bộ, là nguyên nhân chính gây tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng số 105/CT-VKS-DA ngày 12 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Cao Hoàng A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a, b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo Ân hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tính chất, mức độ của hành vi: Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, tội phạm do bị cáo thực hiện với lỗi vô ý nhƣng thuộc trƣờng hợp nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đƣờng bộ, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của bị hại. Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nƣớc ta rất quan tâm đến vấn đề an toàn giao thông và ra sức tuyên truyền cho Nhân dân chấp hành pháp luật khi tham gia giao thông. Tuy nhiên, tình hình vi phạm giao thông đƣờng bộ xảy ra ngày càng phức tạp và nghiêm trọng, là vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện nay. Trên địa bàn thị xã Dĩ An, tình hình các vụ tai nạn giao thông xảy ra do các tài xế không chấp hành luật giao thông đƣờng bộ ngày càng nhiều và đặc biệt việc các tài xế điều khiển xe lấn trái đi không đúng phần đƣờng quy định, đã làm ảnh hƣởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phƣơng, gây hoang mang lo lắng cho nhân dân khi tham gia giao thông. Do vậy, hành vi trên của bị cáo cần phải đƣợc xử lý nghiêm tƣơng xứng tính chất mức độ hậu quả gây ra. Hội đồng xét xử có xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo cùng với chủ xe ô tô tải thùng biển số 60C-317.19 là ông Phan Thành S đã bồi thƣờng khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, đồng thời ngƣời đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự, hiện đang nuôi con nhỏ và là lao động chính trong gia đình nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) xe ô tô tải thùng biển số 60C-319.17 của ông Phan Thành S bị hƣ hỏng, ông S đã nhận lại xe, không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Đối với 01 (một) xe đạp điện bị hƣ hỏng nặng, giữa bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị hại đã thỏa thuận bồi thƣờng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng ra Quyết định trả lại xe cho ngƣời đại diện hợp pháp cho bị hại là đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Phan Thành S chủ xe ô tô tải thùng biển số 60C-319.17 cùng với bị cáo thỏa thuận bồi thƣờng tiền chi phí mai táng, điều trị thƣơng tích, chi phí sửa xe đạp điện và tiền tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại với tổng số tiền 175.000.000 đồng. Ông Lê Hữu L và bà Hoàng Thị D là ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại đồng ý nhận số tiền trên và không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo đủ để răn đe giáo dục và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung. Tiếp tục duy trì lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú số 16/2020/HSST-LCĐKNCT ngày 14/02/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Ngƣời phạm tội còn có thể cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, hiện nay bị cáo đang nuôi con nhỏ, là lao động trong gia đình, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ nghiêm khắc, giáo dục bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối bị cáo.Vì vậy, cần trả lại cho bị cáo bản chính giấy phép lái xe.

Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Cao Hoàng A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Cao Hoàng A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

Tiếp tục duy trì lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú số 16/2020/HSST-LCĐKNCT ngày 14/02/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

2. Biện pháp tƣ pháp: Áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Trả lại cho bị cáo Cao Hoàng A bản chính giấy phép lái xe.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Cao Hoàng A phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo, bị đơn dân sự có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ