vanban.org

Bản án 72/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 27/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng trong vụ án: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy: 1,3891 gam Methamphetamine, hoàn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy (gồm: 01 chai nhựa, 01 nỏ, 01 đoạn ống nhựa); 01 ví da màu đen; 01 đoạn ống nhựa kích… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tang trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:72/2020/HSST
Ngày: 27/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hồng Duy.

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thanh, bà Phạm Thị Hồng.

- Thư ký phiên tòa: ông Đinh Thế Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:59/2020/TLST-HS, ngày 20/10/202, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2020/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: H, tên gọi khác: Tm, sinh năm 1989, tại tỉnh Đắk Nông; Nơi đăng ký NKTT và trú tại: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: L, sinh năm 1966 và con bà: H, sinh năm 1967, hiện cùng trú tại Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Bị cáo là con thứ 02 trong gia đình có 03 anh, em; Tiền án, tiền sự: Không.

Biện pháp ngăn chặn được áp dụng: Bị bắt tạm giữ từ ngày 20/7/2020, sau đó chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đắk Mil.

Bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông T, sinh năm 1994, vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

- Người làm chứng: Anh V, sinh năm 1989, vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 15/7/2020, H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu xám, gắn sim số 0985284091, truy cập mạng xã hội Facebook đặt mua ma túy của một đối tượng nam giới (không rõ nhân thân, lý lịch) ở thành phố Hồ Chí Minh với số tiền 1.500.000 đồng mục đích để sử dụng. Sau khi đặt mua được ma túy, khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 16/7/2020, H đón xe Taxi đi từ nhà ở Thôn X, xã Đ, huyện Đ ra khu vực Vòng xoay thuộc tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện Đắk Mil để nhận ma túy từ đối tượng nam giới (không rõ nhân thân, lý lịch) đi trên xe ô tô khách (không rõ biển kiểm soát) tuyến thành phố Hồ Chí Minh đi tỉnh Đắk Lắk, khi nhận được 01 gói ma túy thì H đưa cho đối tượng giao ma túy số tiền 1.500.000 đồng. Sau khi nhận được ma túy, H đón xe Taxi đi về nhà ở Thôn X, xã Đ, huyện Đ rồi chia ma túy thành 14 gói nhỏ.

Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 19/7/2020, H mang theo 14 gói ma túy rồi đón xe Taxi đi từ nhà ở thôn X, xã Đ đến Khách sạn V thuộc tổ dân phố Q, thị trấn Đ, huyện Đ và thuê phòng số 103 để nghỉ. Sau khi thuê phòng 103, H lấy 01 gói ma túy ra sử dụng, còn 13 gói ma túy thì H cất giấu vào trong ví da 02 gói, trên vách tủ quần áo 04 gói, bên trong vỏ gối 07 gói. Sau khi sử dụng và cất giấu ma túy xong, H gọi điện thoại rủ T và V đến phòng 103 Khách sạn V chơi. Khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, khi V, T đi ra khỏi phòng 103. Lúc này chỉ còn lại H ở trong phòng thì bị lực lượng cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông phát hiện và bắt quả tang H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ gồm: thu giữ trong ví da màu đen của H 02 gói nilon trong suốt, bên trong có chứa những hạt tinh thể màu trắng (nghi là ma túy, được niêm phong và ký hiệu là số 01); 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy (gồm: 01 chai nhựa, 01 nỏ, 01 đoạn ống nhựa); 01 ví da màu đen; 01 đoạn ống nhựa kích thước 2,5cm x 01cm; 01 kéo sắt; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s, màu xám; 01 sim số 0985284091.

Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ tại phòng 103: 11 gói nilon trong suốt, bên trong có chứa những hạt tinh thể màu trắng (nghi là ma túy, được niêm phong và ký hiệu là số 02) do H tự nguyện giao nộp.

Tại Kết luận giám định số 107/KLMT-PC09 ngày 24/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 02 (hai) gói nilon màu trắng, hàn kín được niêm phong trong bì thư (ký hiệu số 01) gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng mẫu là 0,2538 gam; là Methamphetamine. Hoàn lại sau giám định có khối lượng mẫu là 0,1878 gam. Tinh thể màu trắng đựng trong 11 (mười một) gói nilon màu trắng, hàn kín được niêm phong trong bì thư (ký hiệu số 02) gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng mẫu là 1,3375 gam; là Methamphetamine. Hoàn lại sau giám định có khối lượng mẫu là 1,2013 gam.

Tại Bản cáo trạng số 58/CTr – VKS ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Đắk Mil để xét xử bị cáo H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đã phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Htừ 12 đến 15 tháng tù.

- Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự:

+ Tịch thu và tiêu hủy 1,3891 gam Methamphetamine (hoàn lại sau giám định); 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy (gồm: 01 chai nhựa, 01 nỏ, 01 đoạn ống nhựa); 01 ví da màu đen; 01 đoạn ống nhựa kích thước 2,5cmx01cm; 01 kéo sắt; 01 sim số 0985284091.

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s, màu xám, bị cáo H sử dụng vào việc phạm tội.

Trong vụ án còn có vấn đề: Đối tượng bán ma túy cho H, chưa xác định được nhân thân, lý lịch nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau. Đối với T, V, quá trình điều tra xác định Trọng, V không biết việc H tàng trữ trái phép 1,5913 gam ma túy nên không xem xét xử lý.

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo một cơ hội để sửa chữa những lỗi lầm sớm trở thành người công dân tốt, sống có ích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Mil, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thực hiện hành vi đúng như diễn biến sự việc nêu trong Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai.

Hội đồng xét xử xét thấy: Vào lúc 22 giờ 30 phút, ngày 19/7/2020, tại phòng 103, Khách sạn V thuộc tổ dân phố Q, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã phát hiện và bắt quả tang H đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,5913 gam ma túy là chất Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào Tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

….

c) …. Methamphetamine…… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

……

Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước về các chất ma túy, góp phần làm gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng. Trong thời gian gần đây, nổi nên tình trạng tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy một cách nghiêm trọng, đây là một vấn nạn của xã hội chính từ ma túy mà nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội khác, vì vậy cần phải có một hình phạt nghiêm khắc để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời làm gương cho những ai đã và đang có ý định phạm tội, nhằm nhanh chóng loại bỏ loại tội phạm này ra khỏi xã hội.

Nhân thân bị cáo tốt.

Tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có tình tiết tặng nặng quy đinh Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, bố bị cáo là ông L có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo sống cùng với bố mẹ, hiện bố mẹ đang bị bệnh và không có người chăm sóc, đơn có sự xác nhận của chính quyền địa phượng. Do đó cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Xét quan điểm và đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng người, đứng tội, đúng pháp luật nên cần chấp nhận.

Về hình phạt chính: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng một mức án thật nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Số lượng 1,3891 gam Methamphetamine, hoàn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy (gồm: 01 chai nhựa, 01 nỏ, 01 đoạn ống nhựa); 01 ví da màu đen; 01 đoạn ống nhựa kích thước 2,5cmx01cm; 01 kéo sắt; 01 sim số 0985284091, đây là số lượng ma túy bị cáo tàng trữ và công cụ của bị cáo dùng vào mục đích sử dụng chất ma túy, những vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.

+ 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s, màu xám, bị can Hsử dụng vào tìm mua ma túy để tàng trữ và sử dụng nên cần tịch thu và sung vào ngân sách nhà nước.

Trong vụ án còn có vấn đề: Đối tượng bán ma túy cho H, chưa xác định được nhân thân, lý lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau. Đối với T, V, quá trình điều tra xác định T, V không biết việc H tàng trữ trái phép 1,5913 gam ma túy nên không xem xét xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hính sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo H 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 20/7/2020.

3. Về vật chứng trong vụ án: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu và tiêu hủy: 1,3891 gam Methamphetamine, hoàn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy (gồm: 01 chai nhựa, 01 nỏ, 01 đoạn ống nhựa); 01 ví da màu đen; 01 đoạn ống nhựa kích thước 2,5cmx01cm; 01 kéo sắt; 01 sim số 0985284091.

+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s, màu xám.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng vào ngày 19/10/2020, giữa cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông với cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông)

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Hphải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

7. Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ