vanban.org

Bản án 72/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 24/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/6/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 72/2020/HS-ST

Ngày: 24/09/2020

HUYỆN PHÚ GIÁO Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mùi. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Phương Dung; Ông Hồ Doãn Vinh. - Thư ký phiên toà: Ông Hồ Phúc Vĩnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Nương - Kiểm sát viên Ngày 24 tháng 9 năm 2020, tại Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2020/TLST - HS ngày 01 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo: Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm 1996 tại Bình Dương. Nơi cư trú: Ấp a, xã H, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn R, sinh năm 1966 (đã chết) và bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1978; tiền án: Không; tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 11/01/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”, ngày 07/8/2016 chấp hành xong hình phạt tù, bị cáo đã được xóa án tích. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 19/6/2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Trọng H, sinh năm 1993; Thường trú: Ấp a, xã H, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt + Bà Lê Thị H1, sinh năm 1967; Thường trú: Ấp a, xã H, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án đượ c tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ ngày 19/6/2020, do muốn có ma túy để sử dụng, Trần Văn T sử dụng điện thoại di động có số thuê bao 0325.xxxxxx gọi vào số thuê bao 0395.xyxyxy của đối tượng M (không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua ma túy với số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) thì M đồng ý và hẹn T đến khu vực khu dân cư Ph, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương để lấy ma túy. Sau đó, T mượn xe mô tô biển số 61G1-zzzzz nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu đỏ - đen của bạn tên Nguyễn Trọng H đến gặp M nhưng T không nói cho H biết việc T đi mua ma túy của M. Khi đến khu dân cư Ph gặp M, T đưa số tiền 300.000 đồng cho M và nhận từ M 01 (một) bịch ma túy đá bỏ trong vỏ bánh hiệu Lay’s, T để bịch ma túy trên ba ga xe mô tô rồi điều khiển xe về trả cho H. Khoảng 21 giờ, T vừa đi đến đoạn đường giao thông nông thôn thuộc ấp B, xã Ph, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an xã Ph phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua làm việc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Phú Giáo thu giữ: 01 bịch nilon miệng kéo dính, nên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi ma túy; 01 điện thoại di động hiệu samsung màu trắng có gắn thẻ sim; 01 xe mô tô biển số 61G1- zzzzz hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ - đen, 01 cái nỏ thủy tinh; 01 vỏ bánh hiệu Lay’s;. Kết luận giám định số 373/MT-PC09 ngày 26/6/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1070 gam loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng sau giá m định có khối lượng 0,0538 gam Tại bản Cáo trạng số 79/CT-VKSPG ngày 31/8/2020 truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chấy ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/6/2020.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy số ma túy sau khi giám định có khối lượng 0,0538 gam được niêm phong trong bì thư có dấu mộc đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương; 01 cái nỏ thủy tinh; 01 vỏ bánh hiệu Lay’s. Đối với 01 điện thoại di động hiệu samsung màu trắng có gắn thẻ sim Trần Văn T sử dụng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước. 01 xe mô tô biển số 61G1-zzzzz hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ - đen, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu xe là bà Lê Thị H1 cho Nguyễn Trọng H mượn xe làm phương tiện đi lại, ngày 19/6/2020, H cho T mượn xe, bà H1 và ông H không biết bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo đã trả lại cho bà Lê Thị H1, bà H1 không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét. Đối với đối tượng tên M bán ma túy cho Trần Văn T, hiện chưa rõ nhân thân lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo sẽ tiếp tục điều tra xử lý sau. Phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, đồng ý với tội danh, mức hình phạt và các biện pháp tư pháp mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Trong lời nói sau cùng bị cáo ăn năn hối hận và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng là đúng thẩm quyền. Quá trình tố tụng và tại phiên toà bị cáo và những người tham gia tố tụng không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp là phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự. [2] Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn T khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 20 giờ ngày 19/6/2020, tại đường giao thông nông thôn thuộc ấp B, xã Ph, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Công an xã Ph kiểm tra bắt quả tang bị cáo Trần Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ của bị cáo 01 bịch ma túy đựng trong vỏ bánh hiệu Lay’s. Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Giáo tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo T đã thu giữ 01 nỏ thủy tinh là dụng cụ để sử dụng ma túy đã qua sử dụng. Căn cứ Kết luận giám định số 373/MT-PC09 ngày 26/6/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể trắng thu giữ của bị cáo gửi giám định đều là ma túy, có khối lượng 0,1070 gam loại Methamphetamine.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 79/CT-VKSPG ngày 31/8/2020 của VKSND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự. [3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức bị cáo biết được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn thỏa mãn nhu cầu của cá nhân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện bất chấp quy định của pháp luật. Tội phạm bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng tiêu cực đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy mà Nhà nước ta đang tiến hành. Ma túy đang là hiểm họa của nhân loại, nó không những gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, kinh tế của người sử dụng mà còn làm lây lan nhiều căn bệnh xã hội nguy hiểm, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. HĐXX thấy cần phải xử bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội để cải tạo bị cáo thành công dân có ích, đồng th ời nêu gương phòng ngừa chung cho xã hội. [4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt HĐXX cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, HĐXX sẽ cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xét xử bị cáo một mức án phù hợp. [5] Đối với đối tượng tên M bán ma tuý cho bị cáo vào ngày 19/6/2020 tại khu dân cư xã Ph, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, do không biết thân nhân lai lịch của đối tượng này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau nên HĐXX không xem xét. [6] Về xử lý vật chứng của vụ án: - Số ma túy sau khi giám định có khối lượng: 0,0538 gam được niêm phong trong bì thư có dấu mộc đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, xét thấy là chất cấm nên cần tịch thu tiêu hủy. - 01 nỏ thủy tinh là công cụ sử dụng ma tuý; 01 vỏ gói bánh hiệu Lay’s, đây là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ.

- 01 điện thoại samsung màu trắng có gắn thẻ sim (imei 1: 352309/06/ 000291/1, imei 2: 352310/06/000291/9), bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước. - 01 xe mô tô biển số 61G1-zzzzz hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ - đen, ngày 24/8/2020 cơ qua Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo đã trả lại cho bà Lê Thị H1, bà H1 không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đặt ra xem xét. [7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và các tình tiết khác đối với bị cáo cũng như về xử lý vật chứng là phù hợp nên HĐXX chấp nhận. [8] Xét ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo về tội danh, về hình phạt là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận. [9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/6/2020. - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy ma túy sau khi giám định có khối lượng: 0,0538 gam được niêm phong trong bì thư có dấu mộc đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 (một) vỏ bánh hiệu Lay’s. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại samsung màu trắng có gắn thẻ sim (imei 1: 352309/06/ 000291/1, imei 2: 352310/06/000291/9). (Thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/8/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo) - Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. - Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền

kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bán án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ